Những Bài Tình Ca Vấn Vương Một Thời
Lê Tất Đạt
Cuối
năm 1956 cậu tôi từ Mỹ mang về một máy
hát phono tự động 10 đĩa hiệu Téléfunken.
Đương thời đó là loại máy khá tân kỳ của Tây Đức. Tôi làm quen với nhạc Tây
phương từ dạo đó.
Cậu
mang về khá nhiều đĩa 45 vòng của các ca sĩ thời danh như: Patti Page, Billie
Holiday, Frank Sinatra, Bobby Darin, Louis Armstrong, Elvis Presley Charles
Aznavour, Dalida, Juliette Greco
Tôi
vẫn nhớ rõ bản (How much is that) Doggie in the
Window (1956) qua tiếng hát Patti Page. Bài này nghe lần đầu là thích ngay vì có tiếng chó con
sủa gâu gâu rất dễ thương, về sau tôi mới biết nó từng đứng đầu top 10 ở Mỹ năm 1953 vì thế hay cũng phải thôi.
Nhưng hai bản nhạc ngoại quốc đầu tiên tôi nghe mà thật tình xúc động và nhớ
được giai điệu là bài Limelight (Eternally) trong phim cùng
tên của Charles Chaplin mà học sinh tiểu
học Huế được cho đi xem ở rạp Gia Hội thập
niên 50 và bản La Vie En Rose qua tiếng hát thẩn thờ của Audrey Hepburn trong
Sabrina.
Nhạc
Việt Nam đến với tôi đầu tiên là bản Quốc ca. Tôi yêu bài hát ấy. Tôi là một
thằng bé ngỗ nghịch nhưng mỗi buổi sáng
chào cờ nghe bài Quốc ca lòng tôi bỗng dạt dào và tự nhiên đứng nghiêm chỉnh không nhúc
nhích. Đó là một câu trong bài luận văn tôi viết năm lớp nhì và được mang ra
đọc trong buổi chào cờ trước toàn trường tiểu học Phú Mỹ. Một vinh dự! Ngoài bài
quốc ca, bản đầu tiên gây ấn tượng sâu xa và tích tụ trong hồn tôi đó là bản Ngựa Phi
Đường Xa của Lê Yên qua tiếng hát của ban hợp ca Thăng Long trình diễn
tại Hội Quán Quản Tri gần đầu đường Hàng Bè trước ngày chia cắt đất nước. Ngày
đó ca sĩ Hoài Trung làm ngựa hý nghe mê chết luôn vì ông này mặt dài như mặt
ngựa. Và tôi cũng mê Thái Thanh từ dạo ấy. Đúng ra tôi mê sản phẩm Bắc hà từ
dạo ấy. Nhà tôi bên cạnh một gia đình người Bắc di cư trước 1950. Anh Phạm Quang
Ngọc là người lớn hơn tôi chừng vài tuổi, học Nguyễn Du là một người có tài, dưới
mắt tôi ngày đó. Làm thơ, đặt nhạc, kể chuyện ciné như thật. Chính anh là người
đem văn hoá Bắc hà đến với tôi. Chính anh giải thích cho tôi bản Tình Tự
Tin của Phạm Duy chính là Tình yêu, Tự do và Tin tưởng. Chính anh cho
tôi chép lại các tập thơ của Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Quang Dũng, TTKH,
Huy Cận, Chế Lan Viên mà mỗi trang đầu tập thơ anh viết cẩn trọng hàng chữ giở cho khéo kẻo lòng tôi động vỡ mà anh sưu tập. Tôi không biết anh có phải là
tác giả câu này không nhưng hồi đó bạn bè anh, một đám Bắc kỳ vẫn thường xuyên tụ
tập đàn địch, ngâm thơ và nói chuyện ciné nghe thích lắm. Ở lớp đệ thất đệ lục
mà có một ông bạn tài hoa như thế thì cũng hãnh diện lắm chứ phải chơi.Và cũng
chính anh, ngày bỏ Huế vào Saigon đã ký tặng tôi tập thơ do anh sáng tác lúc đi học hè Bồ Đề tôi đem ra khoe với Phạm Lương
Cơ mà hắn không tin . Anh mê ban Thăng Long, ban Tiếng Tơ Đồng, Mộc Lan, Châu
Hà, Kim Tước thì tôi cũng mê theo thôi. Quê chưa, nhưng không sao, nghe riết
rồi minh cũng giền luôn mà bỏ quên sản phẩm nhà …Hà Thanh. Tôi cũng chẳng nhớ
rõ giữa thập niên 50 đã có sự hiện diện của ca sĩ Hà Thanh chưa vì thuở đó ca
sĩ Bắc hà nhiều quá, ngoài những khuôn mặt nói trên còn có ban hợp ca Hạc Thành
với Thể Tần, Hồng Hảo, Nhật Bằng và Nhật Ngân, khánh Ngọc. Nam ca sĩ thời đó có
Anh Ngọc, Cao Thái.
Nhạc
Việt có nhiều bản tuyệt vời lắm chứ.Tôi thích hầu hết các bài ca thời tiền chiến.
Trung kỳ (Huế) thì có Nguyễn Văn Thương với Đêm Đông, La Hối (Hội An)
với Xuân
và Tuổi Trẻ, Phan Huỳnh Điểu (Quảng
Quê hương tôi, có con sông đào xinh xắn
Nước tuôn trên đồng ruộng vắn
Lúa thơm cho đủ hai mùa
Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê.
Quê hương tôi có con đê dài ngây ngất
Lúc tan chợ chiều xa tắp
Bóng nâu trên đường bước dồn
Lửa bếp nồng, vòm tre non, làn khói ấm
hương thôn!
Ai về, về có nhớ, nhớ cô mình chăng?
Tôi về, về tôi nhớ hàm răng cô mình
cười ơ ơ ớ!
Ai về mua lấy miệng cười
Để riêng tôi mua lại mảnh đời, thơ ngây
thơ ơ ớ ơ ơ ờ!
Quê hương ơi! Bóng đa ôm đàn em bé
Nắng trưa im lìm trong lá
Những con trâu lành trên đồi
Nằm mộng gì? Chờ nghe tôi thổi khúc sáo
chơi vơi.
Quê hương ơi! Tóc sương mẹ già yêu dấu
Tiếng ru nỗi niềm thơ ấu
Cánh tay êm tựa mái đầu
Ôi bóng hình từ bao lâu còn ghi mãi sắc
mầu!
...
(Saigon 1952)
Chung Quân với Làng Tôi:Làng tôi có cây
đa cao ngất từng xanh/Có sông sâu lờ
lững vờn quanh
Êm xuôi về Nam/Làng tôi bao mái tranh sang
sát kề nhau/bóng tre ru bên mấy hàng cau/Đồng quê mơ màng. Những bài ca như thế này phải được viết lên bằng
xúc cảm tận đáy lòng, phải ôm ấp tình quê hương đầm ấm ngọt ngào trong tâm hồn
mới bộc bày những lời lẽ thiết tha và âm điệu nhẹ nhàng dịu ngọt như vậy. Tình
Hoài Hương của Phạm Duy hay Làng Tôi của Chung Quân hay đêm Trăng
Sáng Trong Làng của Thông Đạt hay Quê Hương của Hoàng Giác thì cũng
giống như quê hương của bạn, làng quê của bạn, của tôi dưới những đêm Trăng
Thanh Bình (Lam Phương) soi sáng, vang tiếng chày giã gạo. Vậy mà sao chúng ta không nói được gì
mấy chục năm xa xứ. Hay cái tiện nghi vật chất thừa thải làm hủ
hóa tâm hồn mất rồi. Nhạc ngợi ca tình yêu Việt Nam nhiều lắm nhưng hầu hết không phải viết lên
từ nguồn cảm hứng mà từ sự nhồi nặn nên gượng ép, giả tạo nên không sống lâu
được.
Những tình khúc tuyệt vời ngày xưa mấy chục năm sau vẫn còn làm người nghe
xao xuyến là những bài ca đã vượt qua sự thử thách thời gian: Văn Phụng tình tứ
đong đưa với Châu Hà qua Suối
Tóc, Cung Tiến ở tuổi học trò mộng
mơ thương nhớ với Thu Vàng, Phạm Đình Chương nói lên tình yêu quê hương với Hội Trùng Dương. Đoàn Chuẩn Tư Linh
lãng mạn đa tình qua Lá
Thư …Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau phong thư ngào ngạt hương. Nét bút đa tình lã lơi…,
Sau
ngày chia cắt đất nước Vũ Thành gửi ước mơ hoài vọng qua Giấc Mơ Hồi Hương và Hoàng
Dương đem tâm tình mộc mạc nhớ thương một thành phố thân yêu đã mất qua bài Hướng
Về Hà Nội.
Những
năm về sau miền Nam có nhiều sáng tác để đời: Phạm Duy với Ao Anh Sức Chỉ Đường Tà, Nghìn Trùng
Xa Cách ; Y vân yêu thương dào dạt mênh mông với Lòng Mẹ, thờ thẩn câm nín với Những
Bước Chân Âm Thầm; Xuân Tiên giục giã gọi về sum họp bên bếp lửa hồng chan
chứa thương yêu với Về Dưới Mái Nhà; Lê Trọng Nguyễn trở về qua thôn vắng tái tê
tâm hồn nhớ bóng dáng người yêu đã ra đi với Nắng Chiều; Tuấn Khanh
rộn ràng về thăm người yêu khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi qua Hoa
Soan Bên Thềm Cũ; Hoàng Thi Thơ trở về quê xưa ngỡ ngàng hay tin mẹ
hiền đã mất và em gái đã đi lấy chồng với Đường Xưa Lối Cũ; Lam Phương vượt ra
khỏi giòng nhạc mộc mạc Nam bộ trong hầu hết ca khúc của ông để xuất thần viết
lên một tác phẩm tinh tế, âm diệu tuyệt vời
qua tình khúc Chờ Người (Lệ Quyên diễn tả bài này
hay lắm) và một bài thơ tuyệt vời của thi sĩ A Khuê đã được một nhac sĩ trẻ (17, 18 tuổi) phổ thành nhạc, đó là bài Về
Đây Nghe Em của Trần Quang Lộc. Bài này trong CD Thái Thanh Hải Ngoại
3: Đêm Màu Hồng đã ghi sai tên tác giả là Lê Quang Lộc. Đáng tiếc cái lỗi lầm
như vậy rất dễ tránh mà vẫn phạm phải như trường hợp Lê Thu với CD Vọng Ngày Xanh được người ca sĩ này coi…như
một tác phẩm để đời mà trong tuyển chọn 10 bài ca thì 2 bài không ghi tên tác
giả: Em
Chết Theo Ngày Vu Quy và Điệu Buồn. Nếu tôi không lầm thì Em Chết Theo Ngày Vu Quy của Bảo Tô và Điệu Buồn là bài hát hay nhất của nhạc sĩ Thanh Trang. Ba mươi năm sau người Việt mình làm dịch vụ thương mại
vẫn còn tính cách thủ công nghệ hoặc xem thường thính giả và tệ nhất là không
tôn trọng người đã đem tim óc ra sáng tạo tác phẩm cho mình hát…làm giàu.
Về đây nghe em, về đây nghe em
về đây mặc áo the, đi guốc mộc
kể chuyện tình bằng lời ca dao
kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai
kể chuyện tình bằng hạt lúa mới
và về đây nghe gọi tiếng xưa, để nhớ trong
tiếng vỡ bờ
Về đây nghe em, về đây nghe em
về đây thả ước mơ đi hát dạo
để chào đời bằng hạt sương mai
để bằng lòng ngọt ngào hấp hối
Để hận thù người người lắng xuống
rồi tìm nhau như tìm xót xa
trong lúc lệ đã đầy vơi
Này hồn ơi! lên cao lên cao
đem ánh sáng hân hoan trên trời
rọi vào đời cho ta tinh cầu yêu thương
này thịt xương ta chưa mang theo
khi ngã xuống mê man tủi hờn
Và về đây nghe nhau thở dài trong đêm
Về đây nghe em, về đây nghe em
về đây cùng khóc trên sông nước buồn
chở lòng người trở về quê hương
chở hồn mình về dòng suối mát
chở thật thà vào lòng dối trá
Rồi nhặt hoa xin tạ chút ơn
Hạnh phúc khi đã gặp nhau
Lớp tuổi mình
giải trí bằng phương tiện gì trong thời điểm đó? Ngoài ciné, sách báo thì mình có phương tiện gì để nghe nhạc không. Chỉ
một ít gia đìng giàu mới có được một chiếc máy ra-dô mạnh đủ để bắt được đài
Pháp Á ở
Cậu tôi mang về trên dưới 100 đĩa 33 và 45 vòng. Đĩa
33 vòng thường là những tấu khúc cổ điển. Tôi chưa từng được nghe nhưng Danube
Bleu thì đã được Phạm Duy đại chúng hoá qua sóng nước chập chùng, Dòng
Sông Xanh lơ nên nguyên một đĩa hòa tấu Waltz của Johnathan Strauss
cũng nghe trọn hết . Đĩa 45 vòng thì mỗi mặt chỉ có một bản và chỉ có một bản
hay thôi, mặt kia chỉ lấp cho đầy. Nhờ số lượng đĩa cậu tôi mang từ Mỹ về mà
tôi nghe được tất cả những bài ca nổi tiếmg Tây phương cho đến thời điểm cuối
năm 1956, nhất là nhạc Mỹ. Tôi vẫn còn nhớ rõ một số bài tôi thích ngày đó
Patti Page ngoài The Doggie in the Window còn có Tennessee Waltz, You Belong To
Me. Frank Sinatra với You’ll Never Know. Bản này vào cuối thập
niên 50 xuất hiện trong một phim vê Âu
Châu Ban Đêm (Europe by Night) và trở
lại rất thịnh hành ở Huế. Elvis Presley thì có Don’t Be Cruel. Nat
“King” Cole thì có Ballads of the Day. Frank Sinatra với From Here To Eternity (từ
phim From Here To Eternity 1953) và Three Coins In The Fountain
(từ phim Three Coins in The Fountain, 1954);
Doris Day với Secret Love (từ phim Calmity Jane
1953). Billie Holliday với Lady Sings the Blue; Edith Piaf với La
vie en rose, Dalida với Bambino,Histoire d’un amour Charles Aznavour
với Je
cherche mon amour, Après l’amour , Juliette Greco với Je
suis comme je suis. Nửa thứ hai thập niên 50 thì tôi đã khá thành thạo với
loại nhạc thời trang Tây phương, mỗi tuần vẫn chờ sáng chủ Nhật để nghe nhạc
ngoại quốc yêu cầu. Từ năm 56 đến hết thập niên 60 là thời kỳ thịnh hành nhất
của nhạc Rock với Elvis Presley và một chuổi những ca khúc nằm trong Top 10 như
Heartbreake
Hotel , Love Me Tender(1956), Are You Lonesome Tonight? It’s Now or Never (1960), Wooden Heart (1961, từ phim
G.I.Blue); Jerry Lee Lewis với The Great Ball of Fire. Những bản nhạc
tình trong thời kỳ này có Love Letter in The Sand (từ phim Oh!
Bernadine,1957) và Oh! Bernadine của Pat
Boone, Venus (1959) cua Frankie Avalon.Bàn La Mer cua nhạc sĩ Pháp Charles
Trenet được Bobby Darin viết lời Anh dưới tựa Beyond the Sea (1960), Diana
(1957), You Are My Destiny (1958) và Put Your Head On My Shoulder
(1959) của Paul Anka, Oh! Carol (1959) của Neil Sedaka.
Bản này Neil Sedaka viết cho Carole King và được cô đáp lại với bản “Oh!
Neil” nhưng bài này không được phổ biến…Oh! Carol, I am but a fool/Darling I love
you tho' you treat me cruel/You hurt me and you made me cry/But if you leave me
I will surely die…
Thời
điểm này có những bản Jazz trứ danh như Mack the Knife version của Louis Armstrong
1956 và version của Bobby Darin 1959. Bài này nguyên gốc cua Đức "Die Moritat von Mackie Messer“, Kurt
Weill viết từ năm 1928 và Summertime của George Gershwin (từ
phim Porgy and Bess, 1959).
Đúng
ra thì bản Summertime được Gershwin sáng tác cho vở nhạc kịch (Opera) Porgy and
Bess năm 1935 nhưng phải chờ đến sau khi Porgy and Bess được quay thành phim thì
bản này mới thành phổ thông. Tất cả các nghệ sĩ Jazz hàng đầu như Billie
Holliday, Frank Sinatra, Ella Fitzgerald, Louis Armstrong, Miles Davis, Charlie
Parker đều trình diễn và thâu đĩa Summertime… Summertime/And the
livin' is easy/Fish are jumpin'And the cotton is high...Vỡ nhạc kịch Porgy
and Bess được nhiều nhà phê bình âm nhạc cho là tác phẩm tuyệt vời nhất của thế
kỷ 20 và bản Summertime được xem là bản jazz hay nhất và phổ thông nhất trong
lịch sử nhạc jazz. Mai hiền thê mỗi
lần nghe bài này dù có bận làm gì cũng ngưng lại và đòi nghe lần thứ hai ngoài
ra còn nhận ra ngay nghệ sĩ trình diễn
với nhiều versions khác nhau.Cái lạ của
bài này là sự đơn giản thường nhật một buổi sáng mùa hè, thức dậy vẫn còn dịu
dàng ngái ngủ, đứng vương vai nhìn xuống mặt hồ lung linh ánh nắng đầu ngày và
bất chợt nhìn thấy những con cá nhảy tung tăng. Có thể xảy ra sân sau nhà nghỉ
mát của bạn ở bờ hồ vắng vẻ hay nơi một ao cá nào trên miệt kinh thứ ở rừng U
Minh. Nhưng lại dấy lên nổi rộn ràng, vừa rộn ràng vừa ray rức, nổi ray rức
thấm dần từng tế bào từng thớ thịt mà một kẻ đam mê loại nhạc jazz này thường
chiêm nghiệm được. Tôi nói lạ là vì tôi có thói nghe nhạc jazz lúc đêm đã muộn
màng, hai vợ chồng lái xe trên những con lộ vắng, có hai hàng cây và đèn đường
hiu hắt, hạ cửa sổ lấy chút không khí lành đêm khuya và lắng nghe những tình
khúc yêu thích. Trong khung cảnh đó tôi đâu có đợi chờ nghĩ đến những con cá
tung mình lấp lánh giữa ánh sáng đầu ngày, đâu có ngái ngủ vuông vai nhìn mặt hồ
rực rỡ vậy mà mỗi lần nghe Summertime dù trong bóng tối căn phòng
bé nhỏ tôi vẫn nghe một cái gì vấn vương ray rứt , một sân sau có mặt hồ còn
lãng đãng sương mai. One of these mornings/You're gonna wake up/ singingYou're
gonna spread your wings/And take to the sky.Tôi được cái may
mắn có người bạn đời cùng chia sẽ cái mình yêu thích. Mỗi năm
Một
trong những bản nhạc thời trang hoà tấu thịnh hành nhất năm 1960 là bản A
Summer Place của Max Steiner do giàn nhạc Percy Faith trình diễn. Nhạc bản
này lấy ra từ phim cùng tên với hai tài
tử trẻ được hâm mộ thời đó là Troy Donahue
và Sandra Dee và được Oscar bản nhạc hay
nhất trong năm. Âm điệu bài này như tiếng sóng vỗ rì rào trên bãi biển
chiều hôm, nghe xa xăm và buồn man mát. Hãy về Thuận An một đêm trăng, hãy lang
thang trên biển vắng nào một buổi chiều lúc hoàng hôn chập chùng buông xuống,
khi sóng nước miệt mài đuổi bắt nhau trong cái mênh mông tĩnh mịch đất trời và
mơ hồ đâu đó vẳng lên âm vang dịu dàng, lãng đãng bài tình ca một thời yêu dấu.
Thông thường nhạc pop hay thời trang là nhạc có lời: lời đong đưa, lời dịu
ngọt, lời dỗi hờn, lời xót xa nhưng với A Summer Place thì đây là một loại
nhạc hoà tấu, ấy vậy mà vẫn được yêu chuộng không những người đứng tuổi mà cả
giới trẻ nữa. Cũng trong năm này bản It’s Now or Never do Elvis Presley
trình bày là bài hát số 1 ở nhiều quốc gia trên thế giới và cũng rất phổ thông
tại Huế. Bản này là nhạc Ý dưới tên ’O,
Sole Mio (My Sun) được sáng tác từ năm 1898. Nếu các bạn có dịp đi
Gondolier trên các kinh rạch
Bài
Come
Back To
Thập
niên 60 trở về sau nền âm nhạc Việt Nam phát triển dữ dội với phong trào nhạc trẻ,
du ca, tục ca, đạo ca, đủ-thứ ca, Lượng nhiều thì phẩm ít. Ngoại trừ một số bài
hay của Phạm Duy, Y Vân, Lê Trọng Nguyễn, Tuấn Khanh, Văn Phụng, Phạm Đình
Chương còn lại thì có cũng được …mà không cũng chẳng sao, nghĩa là không đáng
nhớ. Nhưng nói như vậy thì Huế mình chửi
chết. Trịnh Công Sơn là một loại Linh Sơn –Sacred
Mountain/La montagne sacrée trong
thần thoại Hy Lạp chứ không phải Soul
Moumtain/La montagne de l’âme của Cao Hành Kiện/Gao Xingjian. Theo họ Cao
thì mỗi trong chúng ta đều có một đỉnh núi tâm linh hay linh hồn cũng vậy. Để
vương tới đỉnh chúng ta phải nổ lực trèo lên. Dùng chân là bị thoái hoá. Hay nói theo ngôn ngữ của Trần Kiêm Đoàn
trong Tu Bụi là phải tu hay sửa mình
để vượt qua bờ bên kia chiếu kiến ngủ uẩn
giai không độ nhất thế khổ ách hay đạt đến đỉnh núi. Nhưng mỗi chàng trai
Huế sinh ra là đã đứng sẵn trên đỉnh núi rồi đâu cần gì leo trèo nữa. Hà Thanh
là một đỉnh cao chót vót, nói như Túy Hồng trong tác phẩm Những Sợi Sắc Không, là giọng ca hay nhất trong cỏi trời này. Phạm
Mạnh Cương, người quàng khăn tím, tím cả khung trời thương nhớ cố đô với bài Thu
Ca cũng đáng nhớ đến. Ôi đàn ông xứ Huế, trời đã chợt nắng, chợt mưa,
chợt vui chợt buồn, chợt cười chợt khóc vậy mà các ông còn mang cả màu tím phủ
lên vạn vậy. Như anh bạn Nguyễn Văn Sa, 10 năm trước đây gửi chúng tôi một lá
thư với màu mực tím còn ông tác giả họ Trần lại mang cả màu tím …tím cả chiều
hoang biền biệt vào lớp. Cà vạt tím, khăn quàng tím, giày tím, bút nịt tím, mắt
kiến tím, bút tím, mực tím, sách tím vở
tím và còn gì tím nữa làm làm sao ai biết được. Đàn ông Huế ở đâu là tung hết
chưởng lực phong toả kinh thành để ngoại lực tà ma không có cơ hội xâm nhập.
Cái gì Huế cũng nhất hết. Vậy mà Thái
Kim Lan nhấn cho hai chữ tộng bộng là cớ làm sao. Tộng bộng
trong ý nghĩa tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống. Nhà khó là nhà nghèo rớt
mồng tơi, chút tiền vay muợn kiếm chác đó đây bữa một bữa hai là biến mất. Chẳng lẻ trí óc
nghèo nàn, kiến thức góp nhặt chút đó chút đây cũng giờ một giờ hai bay đi mất.
Ôi, hình dung từ tộng bộng nghe còn
đau hơn nghìn vạn lần ếch ngồi đáy giếng.
Ngồi đáy giếng thì khung trời Huế là số một trong cỏi ta bà nhưng chút kiến
thức còm vẫn còn khư khư chôn dấu đâu đây, còn tộng bộng là trống trơn, rỗng tuyếch. Là rỗng lặng mênh mông. Nghĩa
là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều voilà …gone! Như rứa là đàn ông Huế đều Ngộ hết. Họ nói năng vạn điều mà có chi
mô. Nói với cái tâm rỗng lặng mà!
Tôi
cũng là người Huế, thương Huế chảy máu mắt ra mà không bộc bạch được tim gan
nên rất mong được một người nào đó nói thay mình. Ngoài 30 năm nay có Huế mình nào đem nhớ thương viết thành
một ca khúc để đời như Come Back To Sorrento,
như Granda,
như Last Time I Saw Paris,
như New
York, New York, như It Never Rain
In Southern California, như Rainy
Night In Georgia, như I Left My
Heart In San Francisco….My
love waits there in san francisco, above the blue and windy sea,
When i come home to you, san francisco, your golden sun will shine for me… (music:
George Cory; Lyrics: Douglas Cross), như
Còn
ca sĩ Huế mình thì sao? Ngoài Hà Thanh,
giọng ca không buồn, không vui, không giận, không hờn, không thương, không
ghét, không tỏ bày, không chuốt trau. Hát lên thản nhiên như không, tiền không
, hâu không; tả không, hữu không; thượng không, hạ không; ngang không, dọc
không; sâu không; cạn không. Nghe cũng được mà không nghe cũng được, không sao!
Ngoài ra còn có Mỹ Thể tuyệt diệu qua ca khúc Chiều Mưa Công Viên của Y
Vân. Thanh Thúy hay một nửa Huế Thanh Lan thì cũng dễ quên thôi hay nhớ nhớ quên
quên thì cũng thế.
Nói
về nhạc ngoại quốc lời Việt thì chúng ta có nhiều bài tình ca tuyệt vời như Cánh Buồm
Xa Xưa/La Paloma(Sebastian Iradier), bài này được sáng tác từ năm 1863
và trong hơn 140 năm qua đã nổi tiếng khắp hoàn cầu , Vũ Nữ Thân Gầy/La Cumpasita(M.Rodriguez),
Dòng
Sông Xanh/Danube Bleu (J. Strauss), Chiều Tà/Sénérade
(Schubert), Chiều tà/Serenata (E.Toscelli), Ánh Mắt Liêu Trai/Traumerei
(R. Schumann), Chủ Nhật Buồn/Gloomy Sunday hay Hungarian Suicide Song
(Rezso Seress) đều do Phạm Duy đặt lời. Bản
Chủ Nhật Buồn đã gây ra một phong trào tự tử ở Hung Gia Lợi và chính tác giả,
ông Seress cũng nhảy lầu tự tử ở Budapest năm 1968, mấy hôm sau ngày kỷ niệm
sinh nhật thứ 69. Bài Hồng Mai Quế lấy ra trong phim Trung
Hoa cùng tên do Nghiêm Tuấn và Lý Lệ Hoa trong vai Hồng Mai Quế là một bài hát rất
thịnh hành trong thập niên 50. Bài này về sau được biết qua tên Cánh Hồng Trung Quốc. Một bài ca Nhật
cũng khá phổ thông đó là bài Shina No Yoru (China Night) mà bạn
nào chơi guitare hay mandoline thì chắc đều
biết.
Those Were The Days là một bản nhạc Nga-Dorogoi
Dinnoyu của Boris Fomin được Gene Raskin viết lời Anh và thịnh hành năm
1968. Bài L’amour est bleu của André Popp (Pháp) được ban nhạc Paul Mauriat
chơi dưới hình thức nhạc êm dịu dễ nghe (easy listening) với tựa đề Love
Is Blue đã đứng nhất 5 tuần lễ liên tiếp ở Mỹ hồi tháng hai và tháng ba
và đến đầu thập niên 70 vẫn còn rất thịnh hành ở miền Nam, nhất là giữa thành phần
sinh viên. Cùng trong năm này bài Honey do Bobby Russell viết cho Bobby
Goldsboro xuất hiện trên thị trường chỉ 3 tuần đã bán trên một triệu đĩa và đứng nhất liên tiếp
5 tuần lễ giữa tháng tư và tháng năm 1968 ở Mỹ. Ở Âu Châu bản này thịnh hành qua tiếng hát Nana Mouskouri dưới tựa
đề Tous
les arbres sont en fleurs và ở Việt Nam cũng vậy thành ra một số bạn
già của tôi ngày xưa chỉ chuộng đồ Tây qua đây chê đè nhạc Mỹ và cho hay họ
quen cái gout Tây rồi khó mà đổi được. Tôi hỏi tới vậy anh thích bản nhạc Tây
nào nhất, không chút do dự anh trả lời ngay với cung cách rất Tây Tous
les arbres sont en fleurs. Amen! Tous les
arbres sont en fleurs/Et la forêt a ces couleurs/Que tu aimais/Les pommiers
roses sur fond bleu/Ont le parfum des jours heureux/Rien n'a changé... Y a
parait-il un jardin/Plus beau qu'ici/Un grand théâtre où mon amour/Joue et
continue chaque jourD'aimer la vie......Năm
1962 Bài Moon River cua Henry Mancini từ Breakfast At Tiffany’s vừa
chiếm được Oscar vừa Grammy Award bài ca hay nhất trong năm. Bài này qua tiếng
hát của Frank Sinatra nghe như bềnh bồng trên dòng sông trăng. Nghệ sĩ da đen
mù Ray Charles làm nên tên tuổi với You Don’t Know Me (1962) và Love
Me With All Your Heart (1963).
Năm 1965 đánh dấu sự thành công rực rỡ của ban Rock’n’Roll
The Rolling Stones với bản (You Can’t Get No) Satisfaction. Bài
này đứng nhất liên tiếp 12 tuần ở Anh và
14 tuần ở Mỹ trong khoảng thời gian tư tháng
5 đến tháng 9. Tính đến nay Ban Rolling Stones đã có tới 37 bản nhạc nằm trong
top 10 và ban nhạc này được xem là ban nhạc Rock số một thế giới.
Nửa thập niên sau của 60 là thời kỳ vàng son của
nhạc thời trang Tây phương. Trong giai đoạn này mỗi năm
đều có những tình khúc tuyệt vời. Bài đầu tiên tôi muốn nói là Yesterday
(1965) của John Lenon và Paul McCartney, tính đến bây giờ có trên 3000 versions
được coi như bài hát phổ thông nhất và được yêu chuộng nhất. Mười năm trước lúc
Paul McCartney đến Winnipeg trình diễn tôi phải sắp hàng hai giờ đồng hồ ngoài
trời -20 bách phân giữa tháng Hai để mua vé cho tháng tám trình diễn. Ba mươi
nghìn cái vé bán hết chỉ trong vòng 45
phút vì mấy chục phòng bán vé trong thành phố cùng mở một lúc và liên kết với
nhau bằng computer.
Yesterday
All my troubles seemed so far away
Now it looks as though they're here to stay
Oh, I believe
In yesterday
Suddenly
I'm not half the man I used to be
There's a shadow hanging over me
Oh, yesterday
Came suddenly
Why she
Had to go I don't know
She wouldn't say
I said
Something wrong now I long
For yesterday
Yesterday
Love was such an easy game to play
Now I need a place to hide away
Oh, I believe
In yesterday
Why she
Had to go I don't know
She wouldn't say
I said
Something wrong now I long
For yesterday
Yesterday
Love was such an easy game to play
Now I need a place to hide away
Oh, I believe
In yesterday
(hum to "I believe in yesterday")
Beatles nói chung và Paul McCarney nói riêng
viết nhiều ca khúc tuyệt vời, các nhạc sĩ khác chỉ ước mơ được một trong những
bài này cũng đủ để tiếng đơi đời như Imagine, Fool on the Hill, Hello, Goodbye,
Hey Jude, Let It Be… when the night is cloudy/There is still a light
that shines on me/Shine on until tomorrow, let it be/I wake up to the sound of
music…, When I Am 64, and The Long and Winding Road, ListenTo What The man said (Paul McCarney
and the Wings) và Michelle được giải Grammy năm 1967 bài hát hay nhất trong năm Michelle, ma
belle./These are
words that go together well /,My Michelle.
Michelle, ma belle/.Sont les mots qui
vont tres bien ensemble/,Tres bien ensemble...Qua năm 1968 một bài dân
ca (Folk) với lời thơ tuyệt vời do cô Joni Mitchell người nước tôi và cùng quê quán
với Lê Quang Phò-Regina-sáng tác tựa Both Sides Now đã mang về cho Judy Collins
giải Grammy bài dân ca hay nhất trong năm. Năm 1969 chính tác giả hát lại bản
này và trở nên một bài dân ca thịnh hành và được yêu chuộng nhất thế giới:
Bows and flows of angel hair and ice
cream castles in the air
And feather canyons everywhere, i've
looked at cloud that way.
But now they only block the sun, they
rain and snow on everyone.
So many things i would have done but
clouds got in my way.
I've looked at clouds from both sides
now,
From up and down, and still somehow
It's cloud illusions i recall.
I really don't know clouds at all.
Moons and junes and ferris wheels,
the dizzy dancing way you feel
As every fairy tale comes real; i've
looked at love that way.
But now it's just another show. you
leave 'em laughing when you go
And if you care, don't let them know,
don't give yourself away.
I've looked at love from both sides
now,
From give and take, and still somehow
It's love's illusions i recall.
I really don't know love at all.
Tears and fears and feeling proud to
say "i love you" right out loud,
Dreams and schemes and circus crowds,
i've looked at life that way.
But now old friends are acting
strange, they shake their heads, they say
I've changed.
Something's lost but something's
gained in living every day.
I've looked at life from both sides
now,
From win and lose, and still somehow
It's life's illusions i recall.
I really don't know life at all.
Nói đến dân ca thì không thể bỏ qua Joan Baez, ca
sĩ dân ca hàng đầu của Mỹ với bài The Night They Drove Old Dixie Down (1971).
Joan Baez là người đã kết bè kết đảng với Jane Fonda tham gia phong trào chống
chiến tranh Việt
Frank
Sinatra trong năm này, 1969, thành công vượt bực với bài My Way mà chính ông lúc thâu
âm cũng chỉ nghĩ là bản nhạc trung bình thôi. Bài này của Claude Francois (1939-1978)
người Pháp, có tựa đề: Comme d’habitude do Paul Anka viết
lời Anh và được rất nhiều nghệ sĩ hát nhưng bài của Sinatra bán chạy nhất và
trở thành bài hát dính liền với tên tuổi ông. Ngay ở Âu Châu thì version tiêng
Anh cũng thịnh hành hơn tiếng Pháp.
Một
cặp song ca xuất hiện mấy năm trước đây, thoạt đầu thất bại nên bị rã đám nhưng
sau khi một bài hát trong album đầu tiên cua họ bán rất chạy nên hai người này tái hợp và thành công lớn lao với
bài Bridge
Over Troubled Water.
When you're weary, feeling small, when tears are in your eyes, I’ll
dry them all.
I'm on your side, oh, when times get rough and friends just can't
be found,
like a bridge over troubled water, I will lay me down.
Like a bridge over troubled water, I will lay me down.
When you're down and out, when you're on the street,
when evening falls so hard, I’ll comfort you.
I'll take your part, oh, when darkness comes and pain is all
around,
like a bridge over troubled water, I will lay me down.
Like a bridge over troubled water, I will lay me down.
Sail on silver girl, sail on by. Your time has come to shine, All
your dreams are on their way.
See how they shine, oh and when you need a friend, I'm sailing
right behind
Like a bridge over troubled water, I will ease your mind.
Like a bridge over troubled water, I will ease your mind.
Đó
là Paul Simon và Art Garfunkel. Tất cả nhạc phẩm của cặp song ca này đều do một
mình Simon viết và ông được tạp chí Time chọn là một trong 100 người đã gọt dũa
thế giới chúng ta đang sống. Riêng cá nhân tôi, tôi thích bài này từ đầu thập niên
70 lúc đi hành quân chung với Mỹ. Sau
khi đến Winnipeg 1975 thì đĩa này là đĩa đầu tiên tôi mua và từ đó mỗi lần nghe
tôi phải nghe lại ít nhất hai lần. Bài Bridge Over Troubled Water làm tên
tuổi Paull Simon và Art Garfunkel trở thành bất tử và trở nên bài hát được yêu
chuộng nhất giữa thành phần sinh viên thanh niên khắp năm châu. Ngay cả lúc cặp
song ca này chia tay, một mình Paul Simon đi lưu diễn vẫn được đón tiếp nồng
nhiệt. Mười mấy năm trước khi Paul đến
Đầu năm 1970 một ban nhạc từ Winnipeg, laị từ quê tôi nữa, The Guess Who đã xâm
lăng thị trường Mỹ và chểm chệ ngồi vào vị trí số 1 với bản American
Woman. Người đàn bà Mỹ đây là tương thần Tự Do và có dư luận Mỹ cho là phản chiến. Bài này trong
năm 2000 và 2005 được bầu là bài hay nhất cua Gia Nã Đại.
Năm 1971 ca
sĩ Rod Stewart từ Anh xâm lăng thị trường Mỹ với bài Maggie May (do anh và một
người khác viết) và được xếp hạng đầu trong top 10 sau khi đã đạt được cùng vị thứ
ở Anh.
Qua năm 1972 bài Without You do Pete Ham
và Tom Evan sáng tác qua tiếng hát ca sĩ Mỹ Harry Nilsson đứng thứ nhất 4 tuần
lễ liên tiếp trong nửa tháng 2 và tháng 3 ở Mỹ và
No I can't forget this evening
Or your face as you were leaving
But I guess that's just the way
The story goes
You always smile
But in your eyes
Your sorrow shows
Yes it shows
No I can't forget tomorrow
When I think of all my sorrow
When I had you there
But then I let you go
And now it's only fair
That I should let you know
What you should know
[Chorus:]
I can't live
If living is without you
I can't live
I can't give anymore
I can't live
If living is without you
I can't give
I can't give anymore
Well I can't forget this evening
Or your face as you were leaving
But I guess that's just the way
The story goes
You always smile
But in your eyes
Your sorrow shows
Yes it shows
Gordon Lightfoot, một người Gia Nã Đại khác, trong thời kỳ này cũng viết rất nhiều bài dân
ca (Folk song) nổi tiếng như If You Could Read My Mind (1971) và Sundown
(1974) là bản dân ca số một của Gia Nã Đại và đứng đầu top 100 ở Mỹ. Một
nhạc sĩ khác, Neil Young hiện tại trong ban tứ ca Cosby, Nash, Young, Still là
người lớn lên ở Winnipeg viết bản Heart of Gold cũng được sắp hạng
nhất trong top 100 ở Mỹ năm 1972.
Trong lúc đó bắt đầu thập niên 70, nước láng giềng
ở phương Nam ban The Carpenters, gồm anh, em gái Richard va Karen
Carpenter, thành công với bài (They
Belong To Be) Close To You (1970), Carole King với
It’s
Too Late (1971) và Carly Simon với You’re So Vain (1972). Bài You’re So
Vain gây rất nhiều tranh luận giữa các nhà phê bình âm nhạc cũng như người
nghe, ai kiêu căng? ai cao ngạo? Người
thì cho là Mick Jagger của Rolling Stone, người thì nói là James Taylor (lúc đó
là ý trung nhân cua nàng), người thì đoán tài tử Warren Beatty nhưng vẫn chưa
ai vén được tấm màng bao phủ. Gần đây một số ký giả đặt lại câu hỏi với Carly,
nàng trả lời tỉnh bơ: Đàn ông người nào cũng kiêu ngạo hết, cho nên không nhất
thiết nói
đến ai.
Năm
1972 một bài hát do Don McLean sáng tác và trình diễn đứng đầu liên tiếp 4 tuần
lễ, đó là bài American Pie, bài này ẩn ý nói lên những biến đổi của nhac Rock
từ ngày ba danh ca Rock: Buddy Holly, Richie Valens và J.P. Richardson bị tử
thương trong tai nạn máy bay năm 1959 (ngày mà Don gọi là ngày âm nhạc tận số, the day music died) cho đến năm 1970 là lúc Don
McLean viết American Pie. Điểm đáng nói là bài này được Hiệp Hội Bảo Tồn Văn
Hóa Mỹ bầu sắp hạng thứ 5 trong những bài
hát thế kỷ 20. Có lẻ điều này làm anh chàng hơi tự kiêu và chê hết mọi ca nhạc
sĩ khác của Mỹ. Thật ra thì anh chỉ có mỗi bản này thôi, 199 bản còn lại coi
như quá xoàn không cần phải nghe đến nói chi cần nhớ. Lúc bản này còn đang thịnh
hành vào cuối năm 1976 Don Mclean có qua trình diễn ở
Năm
1974 bài Rock Me Gently do Andy Kim viết và trình diễn đứng hạng nhất ở Mỹ
và hạng nhì ở Anh. Andy Kim sinh ở
Năm
1975 các bài ListenTo What The Man Said của Paul McCartney và the Wings, One
Of These Nights của ban Eagles, Lady Marmalade của Bob Crewe và kenny Nolan viết do Ban Labelle trình
diễn là nhưng bài hát hàng đầu trong năm. Bài cuối cùng, Lady Marmalade thuộc
loại Disco và được xem như mở đầu cho thời kỳ loại nhạc khiêu vũ phòng trà này.
Tất
cả những bài hát kể trên đều rất thịnh hành ở
Loại
nhạc Tâm Linh –Inspiration – nghe
vào làm tinh thần mình vương lên, dạt dào thương yêu, mình và đồng loại. Bạn
không tin thử lắng nghe Impossible Dream (Từ phim Man Of La
Mancha, 1972) do Frank Sinatra, Connis Francis hay Andy Williams hát. Bạn không
tin thử lắng nghe Lean On Me do Al Green hay The Temptations trình bày. Bạn không
tin thử lắng nghe Carole King hát You’ve Got A Friend. Bạn không tin thử
lắng nghe I Can See It Clear Now do James Taylor hoặc Holy Coles diễn tả.
"The Impossible Dream"
Nhạc:
Mitch Leigh, Lời: by Joe Darion
To dream the impossible dream
To fight the unbeatable foe
To bear with unbearable sorrow
To run where the brave dare not go
To right the unrightable wrong
To love pure and chaste from afar
To try when your arms are too weary
To reach the unreachable star
This is my quest
To follow that star
No matter how hopeless
No matter how far
To fight for the right
Without question or pause
To be willing to march into Hell
For a heavenly cause
And I know if I'll only be true
To this glorious quest
That my heart will lie peaceful and calm
When I'm laid to my rest
And the world will be better for this
That one man, scorned and covered with scars
Still strove with his last ounce of courage
To reach the unreachable star
*
* *
Chúng
ta đang sống trong một thời đại với những điều kiện siêu đẳng kỹ thuật ảnh
hưởng sâu đậm mọi hình thái sinh hoạt của chúng ta, kể cả sự thưởng thức âm
nhạc. Thưởng thức như thế nào và nghe theo cung cách nào. Từ giây phút được
đánh thức bằng tiếng nhạc của đồng hồ báo hiệu, ta bắt đầu những sinh hoạt hằng
ngày với âm nhạc. Nguồn nhạc có thể từ radio hay cassette hay CD trang bị trong
xe. Có thể từ một CD chơi nhạc cầm tay hay Ipod mà ta mang theo trên lối bộ
hành. Nguồn nhạc từ tiệm ăn, tiệm bán tạp hoá, nơi giải trí công cọng hay trong
công sở. Ở nơi nào cũng có âm nhạc. Chúng ta có thể dự thính những buổi trình
diễn, hoà tấu, những đại hội ngoài trời, từ dân ca thời trang, từ rock đến
Jazz. Do đó dù không muốn thì lắm lúc cũng phải nghe thôi. Ngày xưa, ở Âu châu
âm nhạc thuần khiết (absolute music) là thú tiêu khiển của thành phần vua chúa,
quý tộc. Âm nhạc thuần khiết là nhạc không lời, tôi sẽ nói rộng trong bài 25 Năm Nghe Nhạc Cổ Điển Tây Phương, ở
đây chỉ xin định nghĩa vắn tắt để xử dụng từ này. Ở Việt Nam chỉ có nhạc cung
đình chứ làm gì có nhạc dân gian, ngay đến thập niên 60 ở Huế cũng chưa có mấy
gia đình đủ phương tiện thưởng thức âm nhạc. Đó là một thiếu sót về mặt sinh
hoạt tinh thần nhưng thời buổi ấy ai bận tâm đến khi chưa có đủ điều kiên nuôi
dưỡng thể xác thì lo chi bồi dưỡng tinh
thần. Có lẻ vì vậy người mình mau già nua, cằn
cỗi.
Schopenhauer
(1788-1860), triết gia Đức so sánh điều kiện con người như Bánh xe Ixion trong huyền
thoại Hy lạp. Ixion là vua của Lapiths vì tội giết cha vợ nên bị ‘tập đoàn’
Thần khai trừ. Zeus là Thần của các vị Thần thấy vậy bèn cứu đem về sống trên
núi
Tuy
nhiên, may mắn thay, không giống như Ixion trong huyền thoại, ít nhất chúng ta cũng
có phương tiện để tạm thời thoát khỏi bánh xe đời, bánh xe nguyên tắc. Đó là
nghệ thuật. Âm nhạc thuần khiết là một hình thái nghệ thuật rất đặc biệt dưới mắt Schopenhauer. Nó có năng lực giải
phóng con người tạm thời ra khỏi bánh xe đời nghiệt ngã. Chúng ta cần những
giây phút tạm bợ đó để hồi phục quân
bình, để vượt qua cơn khủng hoảng, để lướt thắng cơn mê loạn. Nghe nhạc chăm
chú thì cũng như thiền định thôi, thay vì dùng công án để dằn lại cái tâm viên cho con ngựa ý khỏi vịn cớ
đuổi bắt tìm về, thì âm nhạc có thể dằn tâm trí mình khỏi vương dậy lao xao,
hiềm thù người này, ghét bỏ người khác. Mưu mô chuyện này, lọc lừa chuyện khác.
Nghe nhạc hay nghe tụng kinh cũng vậy, khi dồn tâm trí vào câu kinh là lúc mình
quên những bất như ý, lúc mình chìm lắng trong tiếng nhạc là lúc mình tạm thời
quên được tức bực.
Nói
như lời Phật dạy thì âm nhạc là một loại kim cương bất hoại, một loại quý kiếm chặt
sắt như chém bùn, có khả năng bứng tận gốc rễ ngũ trược ra khỏi cái tâm con
người. Hay nói cách khác âm nhạc có khả năng làm bốc hơi ngũ uẩn rắn chắc
như kim cương bất hoại theo gió
bay đi. Gone with the wind/ Autant en
emporte le vent/ Vom Winde verweht. Mô Phật!
Lê
Tất Đạt