Những Bài Tình Ca Vấn Vương Một Thời

 

Lê Tất Đạt

 

Cuối năm 1956 cậu tôi từ Mỹ mang về một  máy hát  phono tự động 10 đĩa hiệu Téléfunken. Đương thời đó là loại máy khá tân kỳ của Tây Đức. Tôi làm quen với nhạc Tây phương từ dạo đó.

 

Cậu mang về khá nhiều đĩa 45 vòng của các ca sĩ thời danh như: Patti Page, Billie Holiday, Frank Sinatra, Bobby Darin, Louis Armstrong, Elvis Presley Charles Aznavour, Dalida, Juliette Greco

 

Tôi vẫn nhớ rõ  bản (How much is that) Doggie in the Window (1956) qua tiếng hát Patti Page. Bài này  nghe lần đầu là thích ngay vì có tiếng chó con sủa gâu gâu rất dễ thương, về sau tôi mới biết nó từng đứng đầu  top 10 ở Mỹ năm 1953 vì thế hay cũng phải thôi. Nhưng hai bản nhạc ngoại quốc đầu tiên tôi nghe mà thật tình xúc động và nhớ được giai điệu là bài Limelight (Eternally) trong phim cùng tên của Charles Chaplin  mà học sinh tiểu học Huế được cho đi xem ở rạp Gia Hội  thập niên 50 và bản La Vie En Rose qua tiếng hát thẩn thờ của Audrey Hepburn trong Sabrina.

 

Nhạc Việt Nam đến với tôi đầu tiên là bản Quốc ca. Tôi yêu bài hát ấy. Tôi là một thằng bé ngỗ  nghịch nhưng mỗi buổi sáng chào cờ nghe bài Quốc ca  lòng tôi bỗng  dạt dào và tự nhiên đứng nghiêm chỉnh không nhúc nhích. Đó là một câu trong bài luận văn tôi viết năm lớp nhì và được mang ra đọc trong buổi chào cờ trước toàn trường tiểu học Phú Mỹ. Một vinh dự! Ngoài bài quốc ca, bản đầu tiên gây ấn tượng sâu xa và tích tụ trong hồn tôi đó là bản Ngựa Phi Đường Xa của Lê Yên qua tiếng hát của ban hợp ca Thăng Long trình diễn tại Hội Quán Quản Tri gần đầu đường Hàng Bè trước ngày chia cắt đất nước. Ngày đó ca sĩ Hoài Trung làm ngựa hý nghe mê chết luôn vì ông này mặt dài như mặt ngựa. Và tôi cũng mê Thái Thanh từ dạo ấy. Đúng ra tôi mê sản phẩm Bắc hà từ dạo ấy. Nhà tôi bên cạnh một gia đình người Bắc di cư trước 1950. Anh Phạm Quang Ngọc là người lớn hơn tôi chừng vài tuổi, học Nguyễn Du là một người có tài, dưới mắt tôi ngày đó. Làm thơ, đặt nhạc, kể chuyện ciné như thật. Chính anh là người đem văn hoá Bắc hà đến với tôi. Chính anh giải thích cho tôi bản Tình Tự Tin của Phạm Duy chính là Tình yêu, Tự do và Tin tưởng. Chính anh cho tôi chép lại các tập thơ của Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Quang Dũng, TTKH, Huy Cận, Chế Lan Viên mà mỗi trang đầu tập thơ anh viết cẩn trọng hàng chữ giở  cho khéo kẻo lòng tôi động vỡ  mà anh sưu tập. Tôi không biết anh có phải là tác giả câu này không nhưng hồi đó bạn bè anh, một đám Bắc kỳ vẫn thường xuyên tụ tập đàn địch, ngâm thơ và nói chuyện ciné nghe thích lắm. Ở lớp đệ thất đệ lục mà có một ông bạn tài hoa như thế thì cũng hãnh diện lắm chứ phải chơi.Và cũng chính anh, ngày bỏ Huế vào Saigon đã ký tặng tôi tập thơ do anh sáng tác  lúc đi học hè Bồ Đề tôi đem ra khoe với Phạm Lương Cơ mà hắn không tin . Anh mê ban Thăng Long, ban Tiếng Tơ Đồng, Mộc Lan, Châu Hà, Kim Tước thì tôi cũng mê theo thôi. Quê chưa, nhưng không sao, nghe riết rồi minh cũng giền luôn mà bỏ quên sản phẩm nhà …Hà Thanh. Tôi cũng chẳng nhớ rõ giữa thập niên 50 đã có sự hiện diện của ca sĩ Hà Thanh chưa vì thuở đó ca sĩ Bắc hà nhiều quá, ngoài những khuôn mặt nói trên còn có ban hợp ca Hạc Thành với Thể Tần, Hồng Hảo, Nhật Bằng và Nhật Ngân, khánh Ngọc. Nam ca sĩ thời đó có Anh Ngọc, Cao Thái.

 

Nhạc Việt có nhiều bản tuyệt vời lắm chứ.Tôi thích hầu hết các bài ca thời tiền chiến. Trung kỳ (Huế) thì có Nguyễn Văn Thương với Đêm Đông, La Hối (Hội An) với Xuân và Tuổi Trẻ, Phan Huỳnh Điểu (Quảng Nam) với Mùa Đông Binh Sĩ . Nam Kỳ thì có Anh Việt Trần Văn Trọng với Bến Cũ. Bắc Kỳ thì có Văn Cao với Suối Mơ, Buồn Tàn Thu, Thiên Thai; Đặng Thế Phong với Con Thuyền Không Bến; Phạm Duy với Tình Hoài Hương:

 


Quê hương tôi, có con sông đào xinh xắn

Nước tuôn trên đồng ruộng vắn

Lúa thơm cho đủ hai mùa

Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê.

Quê hương tôi có con đê dài ngây ngất

Lúc tan chợ chiều xa tắp

Bóng nâu trên đường bước dồn

Lửa bếp nồng, vòm tre non, làn khói ấm hương thôn!

Ai về, về có nhớ, nhớ cô mình chăng?

Tôi về, về tôi nhớ hàm răng cô mình cười ơ ơ ớ!

Ai về mua lấy miệng cười

Để riêng tôi mua lại mảnh đời, thơ ngây thơ ơ ớ ơ ơ ờ!

 

Quê hương ơi! Bóng đa ôm đàn em bé

Nắng trưa im lìm trong lá

Những con trâu lành trên đồi

Nằm mộng gì? Chờ nghe tôi thổi khúc sáo chơi vơi.

Quê hương ơi! Tóc sương mẹ già yêu dấu

Tiếng ru nỗi niềm thơ ấu

Cánh tay êm tựa mái đầu

Ôi bóng hình từ bao lâu còn ghi mãi sắc mầu!

...

                     (Saigon 1952)


 

Chung Quân với Làng Tôi:Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh/Có sông sâu lờ lững vờn quanh

Êm xuôi về Nam/Làng tôi bao mái tranh sang sát kề nhau/bóng tre ru bên mấy hàng cau/Đồng quê mơ màng. Những bài ca như thế này phải được viết lên bằng xúc cảm tận đáy lòng, phải ôm ấp tình quê hương đầm ấm ngọt ngào trong tâm hồn mới bộc bày những lời lẽ thiết tha và âm điệu nhẹ nhàng dịu ngọt như vậy. Tình Hoài Hương của Phạm Duy hay Làng Tôi của Chung Quân hay đêm Trăng Sáng Trong Làng của Thông Đạt hay Quê Hương của Hoàng Giác thì cũng giống như quê hương của bạn, làng quê của bạn, của tôi dưới những đêm Trăng Thanh Bình (Lam Phương) soi sáng, vang tiếng chày giã  gạo. Vậy mà sao chúng ta không nói được gì mấy chục năm xa xứ. Hay cái tiện nghi vật chất thừa thải  làm  hủ hóa tâm hồn mất rồi. Nhạc ngợi ca tình yêu Việt Nam  nhiều lắm nhưng hầu hết không phải viết lên từ nguồn cảm hứng mà từ sự nhồi nặn nên gượng ép, giả tạo nên không sống lâu được.

 

Những tình khúc tuyệt vời  ngày xưa mấy chục năm sau vẫn còn làm người nghe xao xuyến là những bài ca đã vượt qua sự thử thách thời gian: Văn Phụng tình tứ đong đưa với Châu Hà qua  Suối Tóc, Cung Tiến ở tuổi học trò  mộng mơ thương nhớ với Thu Vàng, Phạm Đình Chương nói lên tình yêu quê hương  với Hội Trùng Dương. Đoàn Chuẩn Tư Linh lãng mạn đa tình qua  Lá Thư Nhớ tới mùa thu năm xưa gửi nhau phong thư ngào ngạt hương. Nét bút đa tình lã lơi…, Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay; Tô Vũ với Tạ TừTình anh như thông đầu non,Vời cao trông mây buồn đứng. Muôn kiếp cô liêu Ngàn năm còn yêu Ngọc Bích với bản tango tuyệt diệu Mộng Chiều Xuân, Thông Đạt với Trăng Sáng Trong Làng…Đêm nay trăng sáng soi làng tôi/Một vài cô thôn nữ gánh lúa lo ngày mai…. Hoàng Giác rung động dạt dào với Ngày Về, Quê Hương. Thập niên 50 bản Trăng Mờ Bên Suối của nhạc sĩ Huế mình Lê Mộng Nguyên,  cũng phổ biến khá rộng rãi tuy nhiên vì bị  đặt lại lời người hẹn cùng ta đứng bên bụi chuối nên  không còn nghe tiếng suối nước róc rách trong rừng trăng mờ ảo đâm ra mất thanh tao.

 

Sau ngày chia cắt đất nước Vũ Thành gửi ước mơ hoài vọng qua Giấc Mơ Hồi Hương và Hoàng Dương đem tâm tình mộc mạc nhớ thương một thành phố thân yêu đã mất qua bài Hướng Về Hà Nội.

 

Những năm về sau miền Nam có nhiều sáng tác để đời: Phạm Duy với Ao Anh Sức Chỉ Đường Tà, Nghìn Trùng Xa Cách ; Y vân yêu thương dào dạt mênh mông  với Lòng Mẹ, thờ thẩn câm nín với Những Bước Chân Âm Thầm; Xuân Tiên giục giã gọi về sum họp bên bếp lửa hồng chan chứa thương yêu với Về Dưới Mái Nhà; Lê Trọng Nguyễn trở về qua thôn vắng tái tê tâm hồn nhớ bóng dáng người yêu đã ra đi với Nắng Chiều; Tuấn Khanh rộn ràng về thăm người yêu khi nắng nhẹ vương trên lưng đồi qua Hoa Soan Bên Thềm Cũ; Hoàng Thi Thơ trở về quê xưa ngỡ ngàng hay tin mẹ hiền đã mất và em gái đã đi lấy chồng với Đường Xưa Lối Cũ; Lam Phương vượt ra khỏi giòng nhạc mộc mạc Nam bộ trong hầu hết ca khúc của ông để xuất thần viết lên một tác phẩm tinh tế, âm diệu tuyệt vời  qua tình khúc Chờ Người (Lệ Quyên diễn tả bài này hay lắm) và một bài thơ tuyệt vời của thi sĩ A Khuê đã được một nhac sĩ trẻ  (17, 18 tuổi) phổ thành nhạc, đó là bài Về Đây Nghe Em của Trần Quang Lộc. Bài này trong CD Thái Thanh Hải Ngoại 3: Đêm Màu Hồng đã ghi sai tên tác giả là Quang Lộc. Đáng tiếc cái lỗi lầm như vậy rất dễ tránh mà vẫn phạm phải như trường hợp Lê Thu với CD Vọng Ngày Xanh được người ca sĩ này coi…như một tác phẩm để đời mà trong tuyển chọn 10 bài ca thì 2 bài không ghi tên tác giả: Em Chết Theo Ngày Vu Quy Điệu Buồn. Nếu tôi không lầm thì Em Chết Theo Ngày Vu Quy của Bảo TôĐiệu Buồn là bài hát hay nhất của nhạc sĩ Thanh Trang. Ba mươi năm sau người Việt mình làm dịch vụ thương mại vẫn còn tính cách thủ công nghệ hoặc xem thường thính giả và tệ nhất là không tôn trọng người đã đem tim óc ra sáng tạo tác phẩm cho mình hát…làm giàu.

 


Về đây nghe em, về đây nghe em

về đây mặc áo the, đi guốc mộc

kể chuyện tình bằng lời ca dao

kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai

kể chuyện tình bằng hạt lúa mới

và về đây nghe gọi tiếng xưa, để nhớ trong tiếng vỡ bờ

Về đây nghe em, về đây nghe em

về đây thả ước mơ đi hát dạo

để chào đời bằng hạt sương mai

để bằng lòng ngọt ngào hấp hối

Để hận thù người người lắng xuống

rồi tìm nhau như tìm xót xa

trong lúc lệ đã đầy vơi

 

Này hồn ơi! lên cao lên cao

đem ánh sáng hân hoan trên trời

rọi vào đời cho ta tinh cầu yêu thương

này thịt xương ta chưa mang theo

khi ngã xuống mê man tủi hờn

Và về đây nghe nhau thở dài trong đêm

 

Về đây nghe em, về đây nghe em

về đây cùng khóc trên sông nước buồn

chở lòng người trở về quê hương

chở hồn mình về dòng suối mát

chở thật thà vào lòng dối trá

Rồi nhặt  hoa xin tạ chút ơn

Hạnh phúc khi đã gặp nhau


Lớp tuổi  mình giải trí bằng phương tiện gì trong thời điểm đó? Ngoài ciné, sách báo thì mình có phương tiện gì để nghe nhạc không. Chỉ một ít gia đìng giàu mới có được một chiếc máy ra-dô mạnh đủ để bắt được đài Pháp Á ở Saigon còn không thì chi nghe được mỗi đài Huế phát thanh giới hạn mấy giờ một ngày. Mấy ai có máy phono quay bằng tay để nghe nhạc Việt trên những đĩa đá 33 vòng dày cộp, nặng trịch. Tôi không nhớ mình có nhiều cơ hội để nghe những bài hát trử tình thời tiền chiến trong thập niên 50 ngoại trừ nghe tại những buổi văn nghệ ngoài trời ở bến Thương Bạc do những nghệ sĩ cây nhà lá vuờng trình diễn trong đó có nữ ca sĩ Mỹ Linh nhà ở đường Võ Tánh với bài tủ Jambalaya. Họa hoằn mới có Đại Nhạc Hội, hoặc thoại kịch  từ Saigòn ra trình diễn. Ban Dân Nam với Túy Hoa, Túy Phượng, Túy Hồng và lang quân Lam Phương một trong 3 Sao Băng, hai người kia là Phùng Trọng chơi trống và Lê Duyên chơi mandoline. Đại nhạc hội Hoàng Thi Thơ thì có thần đồng Hoàng Thi Thao độc tấu vĩ cầm Les Yeux noirs, một bài ca của dân du mục Nga đã được tay Tây ban cầm  Django Reinhard làm nổi tiếng ở Paris thập niên 30. Thời đó đất nước mình vượng phát, xuất hiện nhiều thần đồng, quái kiệt. Một nữ thần đồng khác là Quỳnh Giao xuất hiện trong phim Đất Lành. Còn quái kiệt, minh tinh thì vô số kể. Như Trần Văn Trạch, Tùng Lâm, Xuân Phát, La Thoại Tân. Minh tinh thì có Thẩm Thúy Hằng, Kim Cương và đại tài tử quốc tế Kiều Chinh xuất hiện trong Year of Tiger (1964) với Marshall Thompson cứng đơ như khúc gỗ. Thập niên 50, tôi không nhớ rõ miền Nam đã sản xuất đĩa nhựa tân nhạc 33 vòng hay không, tôi chỉ biết có đĩa đá thâu cổ nhạc Nam phần, còn băng cassette thì hồi đó chưa được sáng chế (hoặc có mà chưa xuất hiện ở Viêt Nam) nên rõ ràng là mình không có nhiều phương tiện để thưởng thức nhạc Việt. Từ giữa thập niên 50 mỗi lần Tết đến tôi nôn nao chi lạ. Không phải áo quần mới. Không phải tiền lì xì. Không phải được ba hôm ăn uống phủ phê mà nôn nao vì được xem phim Tết và nghe nhạc Xuân. Tôi yêu nhạc xuân. Từ bản Valse Việt nam đầu tiên Xuân và Tuổi Trẻ của cố nhạc sĩ  La Hối đến bản Tango Mộng Chiều Xuân của Ngọc Bích. Từ Bến Xuân của Văn Cao đến Xuân Ca của Phạm Duy. Từ Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương đến Anh Cho Em Mùa Xuân của Nguyễn Hiền. Cả một bầu trời xuân bát ngát, dịu dàng lã lướt như cánh bướm vờn hoa, ngọt nào đầm ấm như âm thanh tiếng nước sôi tí tách t nồi bánh tét trên bếp hồng. Cả một khung trời nhung nhớ theo tiếng hát trở về. Cho đến bây giờ mỗi độ xuân về gia đình tôi vẫn rộn ràng những bài ca xuân một tuần lễ trước Tết và vài hôm sau đó. Vậy là tôi cũng yêu nhạc Việt lắm chứ. Vậy mà mai hiền thê hay cằn nhằn, anh nghe mãi loại nhạc léo nhéo ấy suốt ngày mà sao chịu được hay thế (Nhạc léo nhéo ấy là những Concerto for Violin và Orchestra hay Piano). Không những chỉ yêu thôi mà còn mê nữa nhưng có lẽ tôi hơi lọc lựa. Tôi chỉ thích những loại nhạc ngợi ca tình tự quê hương vì loại nhạc này nếu không có xúc đông chân thật thì không thể viết lên được. Nhạc tình, có lẻ, …Anh xin làm đá cuội mà lăn theo gót hài trong Biết Đâu Cội Nguồn của họ Trịnh thì mới đúng gọi là tình si như mối tình Đoàn Dự dành cho Vương Ngọc Yến.Cũng chẳng sao vì cảm quan nghệ thuật lấy gì làm tiêu chuẩn? Cái mà Tây phương gọi là culture  bao gồm mọi lãnh vực sinh hoạt cả thể chầt lẫn tinh thần của một xã hội, vì vậy vừa có tính cách đặc thù vừa bao quát. Cho nên đụng vào cái culture của người là một vấn đề rất tế nhị. Nước mắm kho quẹt của mình ngon đáo để nhưng có thằng Tây nào chịu được không? Và chưa chắc mọi người Việt đều hít hà  hạnh phúc với mùi vị đó, như hương vị quả sầu riêng nhà tôi vẫn nhắm tít mắt tận hưởng mà tôi lại không thể đến gần. Cái đó là culture, thưởng thức âm nhạc cũng như thưởng thức món ăn thôi, có người nhấp một ngụm trà mà ngủ uẩn biến tan như Trần Kiêm Đoàn (trong Tu Bụi), nhưng cách pha trà của anh công phu lắm, nếu tôi có khả năng làm được như vậy thì chưa đưa chung lên môi cũng ngộ được rồi. Có người nghe một khúc nhạc  mà hận thù tan biến. Vì thế tôi lọc lựa cũng phải thôi. Ngoài ba mươi năm nay tôi vẫn thắc mắc tại sao lúc bỏ Bắc vào Nam, dù xa mồ mả tiên tổ nhưng vẫn ở trên đất nước vậy mà thuỏ ấy nhiều người đã nói lên cái tâm tình hoài vọng thiết tha của minh qua Tình Hoài Hương, Hướng Về Hà Nội, Giấc Mơ Hồi Hương; còn với cuộc ra đi nghìn trùng xa thẳm, lưu lạc xứ người trong một hoàn cảnh sinh hoạt văn hóa hoàn toàn xa lạ mà không có ai bộc bạch nổi thương tiếc xa quê. Cũng có vài bài ca thương gió khóc trăng vu vơ, cũng có vài ba ca khúc hẹn về giài phóng quê nhà, cũng có vài ba ca khúc nhớ Saigon ngày xưa anh chờ em đầu hè, cuối ngõ, cũng có vài ba ca khúc nhớ Đà lạt lũng thấp đồi cao, nhớ Huế trăng nước Vĩ Dạ còn đợi câu chờ. Chờ ai? Chờ ông cai bến đò. Bến đò Thừa Phủ em thẹn thùng nghiêng nón làm anh xao xuyến tâm hồn. Vậy thôi sao. Huế mình ở đâu cũng tụ tập ồn ào, ở đâu cũng lao xao chào xáo. Sông Hương mình êm đềm, tuyệt vời, thơ mộng hơn nghìn vạn lần sông Seine. Tháp Linh Mụ mình cao ngất từng xanh, cao hơn trăm lần tháp nghiêng-Leaning Tower PisaFlorence mà lại xây năm nghìn năm trước so với Tháp Pisa chỉ mới xây vào năm 1190 thôi. Huế mình cái chi cũng nhất hết. Vang bóng một thời với cung điện, đền đài lăng miếu, với tiếng chuông thiên mụ, với giòng sông tư tưởngcó bờ bên này là bão nổi bon chen tuyệt vọng và bên kia là trầm tư tĩnh lặng tuyệt vời.(Trần Kiêm Đoàn, Tu Bụi, trang 33).

 

Cậu tôi mang về trên dưới 100 đĩa 33 và 45 vòng. Đĩa 33 vòng thường là những tấu khúc cổ điển. Tôi chưa từng được nghe nhưng Danube Bleu thì đã được Phạm Duy đại chúng hoá qua sóng nước chập chùng, Dòng Sông Xanh lơ nên nguyên một đĩa hòa tấu Waltz của Johnathan Strauss cũng nghe trọn hết . Đĩa 45 vòng thì mỗi mặt chỉ có một bản và chỉ có một bản hay thôi, mặt kia chỉ lấp cho đầy. Nhờ số lượng đĩa cậu tôi mang từ Mỹ về mà tôi nghe được tất cả những bài ca nổi tiếmg Tây phương cho đến thời điểm cuối năm 1956, nhất là nhạc Mỹ. Tôi vẫn còn nhớ rõ một số bài tôi thích ngày đó Patti Page ngoài The Doggie in the Window còn có Tennessee Waltz, You Belong To Me. Frank Sinatra với You’ll Never Know. Bản này vào cuối thập niên 50 xuất hiện trong một phim vê Âu Châu  Ban Đêm (Europe by Night) và trở lại rất thịnh hành ở Huế. Elvis Presley thì có Don’t Be Cruel. Nat “King” Cole thì có Ballads of the Day. Frank Sinatra với From Here To Eternity (từ phim From Here To Eternity 1953) Three Coins In The Fountain (từ phim Three Coins in The Fountain, 1954);  Doris Day với Secret Love (từ phim Calmity Jane 1953). Billie Holliday với Lady Sings the Blue; Edith Piaf với La vie en rose, Dalida với Bambino,Histoire d’un amour Charles Aznavour với Je cherche mon amour, Après l’amour , Juliette Greco với Je suis comme je suis. Nửa thứ hai thập niên 50 thì tôi đã khá thành thạo với loại nhạc thời trang Tây phương, mỗi tuần vẫn chờ sáng chủ Nhật để nghe nhạc ngoại quốc yêu cầu. Từ năm 56 đến hết thập niên 60 là thời kỳ thịnh hành nhất của nhạc Rock với Elvis Presley và một chuổi những ca khúc nằm trong Top 10 như Heartbreake Hotel , Love Me Tender(1956), Are You Lonesome Tonight? It’s Now or Never (1960), Wooden Heart (1961, từ phim G.I.Blue); Jerry Lee Lewis với The Great Ball of Fire. Những bản nhạc tình trong thời kỳ này có Love Letter in The Sand (từ phim Oh! Bernadine,1957)  Oh! Bernadine của Pat Boone, Venus (1959) cua Frankie Avalon.Bàn La Mer cua nhạc sĩ Pháp Charles Trenet được Bobby Darin viết lời Anh dưới tựa Beyond the Sea (1960), Diana (1957), You Are My Destiny (1958) và Put Your Head On My Shoulder (1959) của Paul Anka, Oh! Carol (1959) của Neil Sedaka. Bản này Neil Sedaka viết cho Carole King và được cô đáp lại với bản “Oh! Neil” nhưng bài này không được phổ biếnOh! Carol, I am but a fool/Darling I love you tho' you treat me cruel/You hurt me and you made me cry/But if you leave me I will surely die…

 

Thời điểm này có những bản Jazz trứ danh như Mack the Knife version của Louis Armstrong 1956 và version của Bobby Darin 1959. Bài này nguyên gốc cua Đức  "Die Moritat von Mackie Messer“, Kurt Weill viết từ năm 1928 và Summertime của George Gershwin (từ phim Porgy and Bess, 1959).

 

Đúng ra thì bản Summertime được Gershwin sáng tác cho vở nhạc kịch (Opera) Porgy and Bess năm 1935 nhưng phải chờ đến sau khi Porgy and Bess được quay thành phim thì bản này mới thành phổ thông. Tất cả các nghệ sĩ Jazz hàng đầu như Billie Holliday, Frank Sinatra, Ella Fitzgerald, Louis Armstrong, Miles Davis, Charlie Parker đều trình diễn và thâu đĩa Summertime Summertime/And the livin' is easy/Fish are jumpin'And the cotton is high...Vỡ nhạc kịch Porgy and Bess được nhiều nhà phê bình âm nhạc cho là tác phẩm tuyệt vời nhất của thế kỷ 20 và bản Summertime được xem là bản jazz hay nhất và phổ thông nhất trong lịch sử nhạc jazz. Mai hiền thê mỗi lần nghe bài này dù có bận làm gì cũng ngưng lại và đòi nghe lần thứ hai ngoài ra còn  nhận ra ngay nghệ sĩ trình diễn với  nhiều versions khác nhau.Cái lạ của bài này là sự đơn giản thường nhật một buổi sáng mùa hè, thức dậy vẫn còn dịu dàng ngái ngủ, đứng vương vai nhìn xuống mặt hồ lung linh ánh nắng đầu ngày và bất chợt nhìn thấy những con cá nhảy tung tăng. Có thể xảy ra sân sau nhà nghỉ mát của bạn ở bờ hồ vắng vẻ hay nơi một ao cá nào trên miệt kinh thứ ở rừng U Minh. Nhưng lại dấy lên nổi rộn ràng, vừa rộn ràng vừa ray rức, nổi ray rức thấm dần từng tế bào từng thớ thịt mà một kẻ đam mê loại nhạc jazz này thường chiêm nghiệm được. Tôi nói lạ là vì tôi có thói nghe nhạc jazz lúc đêm đã muộn màng, hai vợ chồng lái xe trên những con lộ vắng, có hai hàng cây và đèn đường hiu hắt, hạ cửa sổ lấy chút không khí lành đêm khuya và lắng nghe những tình khúc yêu thích. Trong khung cảnh đó tôi đâu có đợi chờ nghĩ đến những con cá tung mình lấp lánh giữa ánh sáng đầu ngày, đâu có ngái ngủ vuông vai nhìn mặt hồ rực rỡ vậy mà mỗi lần nghe Summertime dù trong bóng tối căn phòng bé nhỏ tôi vẫn nghe một cái gì vấn vương ray rứt , một sân sau có mặt hồ còn lãng đãng sương mai. One of these mornings/You're gonna wake up/ singingYou're gonna spread your wings/And take to the sky.Tôi được cái may mắn có người bạn đời cùng chia sẽ cái mình yêu thích. Mỗi năm Winnipeg vẫn có hai tuần Jazz Festival vào giữa  tháng 6 và năm nào chúng tôi cũng tham dự, có năm, mỗi buổi tối từ 10 giờ đến 2 giờ sáng cuối tuần chúng tôi “hop” đến 6, 7 clubs khác nhau để xem các nghệ sĩ quốc tế trình diễn. Những ca sĩ jazz nổi danh hiện nay như Diana Krall và Holy Cole, một thời chúng tôi đã từng “rub shoulders” trong những hộp đêm đầy ứ người. Chỉ tiết là bây giờ thuốc lá đều bị cấm khắp mọi nơi nên không còn được cái thú nhìn khói thuốc mơ hồ quyện với âm thanh réo rắt , nhức nhối của tiếng kèn sax hay trumpet như cái không khí tuyệt vời thập niên 40 trong những hộp đêm ở Chiacago mà các bạn bắt gặp trong những  phim “Cotton Club” (1984) và The Fabulous Baker Boys (1989).

Một trong những bản nhạc thời trang hoà tấu thịnh hành nhất năm 1960 là bản A Summer Place của Max Steiner do giàn nhạc Percy Faith trình diễn. Nhạc bản này lấy ra từ phim cùng tên với  hai tài tử trẻ được  hâm mộ thời đó là Troy Donahue và Sandra Dee và được Oscar bản nhạc hay  nhất trong năm. Âm điệu bài này như tiếng sóng vỗ rì rào trên bãi biển chiều hôm, nghe xa xăm và buồn man mát. Hãy về Thuận An một đêm trăng, hãy lang thang trên biển vắng nào một buổi chiều lúc hoàng hôn chập chùng buông xuống, khi sóng nước miệt mài đuổi bắt nhau trong cái mênh mông tĩnh mịch đất trời và mơ hồ đâu đó vẳng lên âm vang dịu dàng, lãng đãng bài tình ca một thời yêu dấu. Thông thường nhạc pop hay thời trang là nhạc có lời: lời đong đưa, lời dịu ngọt, lời dỗi hờn, lời xót xa nhưng với A Summer Place thì đây là một loại nhạc hoà tấu, ấy vậy mà vẫn được yêu chuộng không những người đứng tuổi mà cả giới trẻ nữa. Cũng trong năm này bản It’s Now or Never do Elvis Presley trình bày là bài hát số 1 ở nhiều quốc gia trên thế giới và cũng rất phổ thông tại Huế. Bản này là nhạc Ý dưới tên  O, Sole Mio (My Sun) được sáng tác từ năm 1898. Nếu các bạn có dịp đi Gondolier trên các kinh rạch Venice thì bạn sẽ nghe các thanh niên vừa chèo đò vừa  hát bản này. Bản Torna a Surriento(Come Back To Sorrento)…Sunlight dances on the sea/Tender thoughts occur to me/I have often seen your eyesIn the nighttime when I dream … Please don'tsay farewell/And leave this heart that's broken/Come back to SorrentoSo I can mend của Ernesto DeCurtis được Phạm Duy du nhập vào Việt Nam đầu thập niên 50 dưới tựa đề  Trở Về Mái Nhà Xưa là một bài hát khá thịnh hành ở miền Nam trong mấy chục năm  cho đến  1975 Về đây khi mái tóc còn xanh xanh/Về đây với mầu gió ngày lang thang/Về đây xác hiu hắt lạnh lùng./Ôi lãng du quay về điêu tàn… Thôi nhé đừng hoài âm xưa/Giọt mưa đã gieo trên thềm nhà/Người ngồi im bóng/Lắng nghe tháng ngày qua.

 

 

Bài Come Back To Sorrento xuất hiện trong phim Bugsy của Warren Beatty năm 1991. Bài này có nhiều lời tiếng Anh khác nhau, ở trên là lời phổ thông nhất, do Dean Martin và Frank Sinatra cũng như nhiều danh ca khác hát. Tuy là có nhiều versions nhưng đại để không khác nhau gì mấy riêng lời Việt của Phạm Duy nghe buồn man mát, nói lên được niềm hoài vọng tiếc nuối của một kẻ trở về quê xưa nhưng ý tưởng lại không phù hợp với lời ca tiếng Anh. Tôi có lời tiếng Ý nhưng  không hiểu nên chẳng biết hư thực ra sao. Phạm Duy thông thường viết lời theo cảm hứng vì vậy có nhiều câu xuất thần như trong những bài của Brahm, Schubert và Toselli. Tôi khá ngạc nhiên với sự nghe nhiều, biết rộng thế giới nhạc cổ điển của ông dù ông là người không được huấn luyện  trong lãnh vực này. Ông đã du nhập vào Việt Nam  last movement -Solveig’s Song- từ trường  nhạc kịch (Accidental music) của   nhà  soạn nhạc Na Uy Edvard Grieg, Peer Gynt Suit từ bao giờ dù trường nhạc kịch này không mấy phổ thông. Mới bảy năm trước khi con gái tôi trình diễn trường tấu khúc này với dàn nhạc trẻ của thành phố (Youth Symphony Orchestra) tôi mới  biết đến dù ở thời điểm đó tôi cũng đã có ngoài mười bảy năm nghe và sưu tập nhạc cổ điển.

 

Thập niên 60 trở về sau nền âm nhạc Việt Nam phát triển dữ dội với phong trào nhạc trẻ, du ca, tục ca, đạo ca, đủ-thứ ca, Lượng nhiều thì phẩm ít. Ngoại trừ một số bài hay của Phạm Duy, Y Vân, Lê Trọng Nguyễn, Tuấn Khanh, Văn Phụng, Phạm Đình Chương còn lại thì có cũng được …mà không cũng chẳng sao, nghĩa là không đáng nhớ. Nhưng nói như vậy thì Huế mình chửi chết. Trịnh Công Sơn là một loại Linh Sơn –Sacred Mountain/La montagne sacrée trong thần thoại Hy Lạp  chứ không phải  Soul Moumtain/La montagne de l’âme của Cao Hành Kiện/Gao Xingjian. Theo họ Cao thì mỗi trong chúng ta đều có một đỉnh núi tâm linh hay linh hồn cũng vậy. Để vương tới đỉnh chúng ta phải nổ lực trèo lên. Dùng chân là bị thoái hoá.  Hay nói theo ngôn ngữ của Trần Kiêm Đoàn trong Tu Bụi là phải tu hay sửa mình để vượt qua bờ bên kia chiếu kiến ngủ uẩn giai không độ nhất thế khổ ách hay đạt đến đỉnh núi. Nhưng mỗi chàng trai Huế sinh ra là đã đứng sẵn trên đỉnh núi rồi đâu cần gì leo trèo nữa. Hà Thanh là một đỉnh cao chót vót, nói như Túy Hồng trong tác phẩm Những Sợi Sắc Không, là giọng ca hay nhất trong cỏi trời này. Phạm Mạnh Cương, người quàng khăn tím, tím cả khung trời thương nhớ cố đô với bài Thu Ca cũng đáng nhớ đến. Ôi đàn ông xứ Huế, trời đã chợt nắng, chợt mưa, chợt vui chợt buồn, chợt cười chợt khóc vậy mà các ông còn mang cả màu tím phủ lên vạn vậy. Như anh bạn Nguyễn Văn Sa, 10 năm trước đây gửi chúng tôi một lá thư với màu mực tím còn ông tác giả họ Trần lại mang cả màu tím …tím cả chiều hoang biền biệt vào lớp. Cà vạt tím, khăn quàng tím, giày tím, bút nịt tím, mắt kiến tím,  bút tím, mực tím, sách tím vở tím và còn gì tím nữa làm làm sao ai biết được. Đàn ông Huế ở đâu là tung hết chưởng lực phong toả kinh thành để ngoại lực tà ma không có cơ hội xâm nhập. Cái gì Huế cũng nhất hết. Vậy mà  Thái Kim Lan nhấn cho hai chữ tộng bộng là cớ làm sao. Tộng bộng trong ý nghĩa tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống. Nhà khó là nhà nghèo rớt mồng tơi, chút tiền vay muợn kiếm chác đó đây bữa  một bữa hai là biến mất. Chẳng lẻ trí óc nghèo nàn, kiến thức góp nhặt chút đó chút đây cũng giờ một giờ hai bay đi mất. Ôi, hình dung từ tộng bộng nghe còn đau hơn nghìn vạn lần ếch ngồi đáy giếng. Ngồi đáy giếng thì khung trời Huế là số một trong cỏi ta bà nhưng chút kiến thức còm vẫn còn khư khư chôn dấu đâu đây, còn tộng bộng là trống trơn, rỗng tuyếch. Là rỗng lặng mênh mông. Nghĩa là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều voilà …gone! Như rứa là đàn ông Huế đều Ngộ hết. Họ nói năng vạn điều mà có chi mô. Nói với cái tâm rỗng lặng mà!

 

Tôi cũng là người Huế, thương Huế chảy máu mắt ra mà không bộc bạch được tim gan nên rất mong được một người nào đó nói thay mình. Ngoài 30 năm nay có Huế mình nào đem nhớ thương viết thành một ca khúc để đời như Come Back To Sorrento, như Granda, như Last Time I Saw Paris, như New York, New York, như It Never Rain In Southern California, như Rainy Night In Georgia, như I Left My Heart In San Francisco….My love waits there in san francisco, above the blue and windy sea,
When i come home to you, san francisco, your golden sun will shine for me…
(music: George Cory; Lyrics: Douglas Cross), như El Paso, như By The Time I Get To Phoenix, như Aranjuez mon amour. Ai ra xứ Huế thì ra, ai vô xứ Huế thì vô. Cứ vô vô, ra ra mãi hoài mà không thoát khỏi vòng lẩn quẩn như anh chàng Lục Vân Tiên  thuỏ nào! Còn mưa Huế, mưa trên tháp ngà, mưa qua tháp cổ, mưa vào nội thành, mưa ra Thượng Tứ. Mưa ray mưa rức, mưa bực mưa buồn, mưa tuôn mưa chảy nhưng mưa nào qua chợ Đông Ba mà có lá me bay là đà?.. chợ Đông Ba khi mình qua lá me bay bay là đà/chiều thiết tha có anh bên mình/ mà ngỡ hôm qua Mưa Trên Phố Huế, nhạc: Minh Kỳ;Thơ:Tôn Nữ Thụy Khương). Đúng ra đây là một bài hát viết về Huế với một xúc động thiết tha. Nổi rung động của người phổ  nhạc cùng nhịp với nổi rung đông của nguơi làm thơ nên nghe dịu dàng êm ả như dòng sông Hương trầm mình dưới ánh trăng khuya mà   một lần Lê Hoàng Long đã lênh đênh theo gió ngàn ngày nào qua ca khúc tình yêu Gợi Giấc Mơ Xưa Ngày mai lênh đênh trên sông Hương/Theo gió mơ hồ hồn về đâu?/ Sóng sầu dâng theo bao năm tháng/ ngóng về đường lối cũ tìm em! . Lúc viết bài này tôi đang lắng nghe CD Bảo Yến Tuyệt Phẩm: Vầng Trăng Xứ Huế với 10 khúc tình ca xứ Huế trong đó có Mưa Trên Phố Huế của Minh Kỳ, 9 tuyệt phẩm còn lại có cũng được mà không cũng được, người này không nghe thì người khác nghe, có sao đâu. Sáng tác nhạc mà tiết tấu (melody) nghèo nàn quá thì cũng như làm thơ vè lục bát, nghe chán chết.

 

Còn ca sĩ Huế mình thì sao? Ngoài Hà Thanh, giọng ca không buồn, không vui, không giận, không hờn, không thương, không ghét, không tỏ bày, không chuốt trau. Hát lên thản nhiên như không, tiền không , hâu không; tả không, hữu không; thượng không, hạ không; ngang không, dọc không; sâu không; cạn không. Nghe cũng được mà không nghe cũng được, không sao! Ngoài ra còn có Mỹ Thể tuyệt diệu qua ca khúc Chiều Mưa Công Viên của Y Vân. Thanh Thúy hay một nửa Huế Thanh Lan thì cũng dễ quên thôi hay nhớ nhớ quên quên thì cũng thế.

 

Nói về nhạc ngoại quốc lời Việt thì chúng ta có nhiều bài tình ca tuyệt vời như Cánh Buồm Xa Xưa/La Paloma(Sebastian Iradier), bài này được sáng tác từ năm 1863 và trong hơn 140 năm qua đã nổi tiếng khắp hoàn cầu , Vũ Nữ Thân Gầy/La Cumpasita(M.Rodriguez), Dòng Sông Xanh/Danube Bleu (J. Strauss), Chiều Tà/Sénérade (Schubert), Chiều tà/Serenata (E.Toscelli), Ánh Mắt Liêu Trai/Traumerei (R. Schumann), Chủ Nhật Buồn/Gloomy Sunday hay Hungarian Suicide Song (Rezso Seress)  đều do Phạm Duy đặt lời. Bản Chủ Nhật Buồn đã gây ra một phong trào tự tử ở Hung Gia Lợi và chính tác giả, ông Seress cũng nhảy lầu tự tử ở Budapest năm 1968, mấy hôm sau ngày kỷ niệm sinh nhật thứ 69. Bài Hồng Mai Quế lấy ra trong phim Trung Hoa cùng tên do Nghiêm Tuấn và Lý Lệ Hoa trong vai Hồng Mai Quế là một bài hát rất thịnh hành trong thập niên 50. Bài này về sau được biết  qua tên Cánh Hồng Trung Quốc. Một bài ca Nhật cũng khá phổ thông đó là bài Shina No Yoru (China Night) mà bạn nào  chơi guitare hay mandoline thì chắc đều biết.

 

Those Were The Days là một bản nhạc Nga-Dorogoi Dinnoyu của Boris Fomin được Gene Raskin viết lời Anh và thịnh hành năm 1968. Bài L’amour est bleu của André Popp (Pháp) được ban nhạc Paul Mauriat chơi dưới hình thức nhạc êm dịu dễ nghe (easy listening) với tựa đề Love Is Blue đã đứng nhất 5 tuần lễ liên tiếp ở Mỹ hồi tháng hai và tháng ba và đến đầu thập niên 70 vẫn còn rất thịnh hành ở miền Nam, nhất là giữa thành phần sinh viên. Cùng trong năm này bài Honey do Bobby Russell viết cho Bobby Goldsboro xuất hiện trên thị trường chỉ 3 tuần đã  bán trên một triệu đĩa và đứng nhất liên tiếp 5 tuần lễ giữa tháng tư và tháng năm 1968 ở Mỹ. Ở Âu Châu bản này  thịnh hành qua tiếng hát Nana Mouskouri dưới tựa đề Tous les arbres sont en fleurs và ở Việt Nam cũng vậy thành ra một số bạn già của tôi ngày xưa chỉ chuộng đồ Tây qua đây chê đè nhạc Mỹ và cho hay họ quen cái gout Tây rồi khó mà đổi được. Tôi hỏi tới vậy anh thích bản nhạc Tây nào nhất, không chút do dự anh trả lời ngay với cung cách rất Tây Tous les arbres sont en fleurs. Amen! Tous les arbres sont en fleurs/Et la forêt a ces couleurs/Que tu aimais/Les pommiers roses sur fond bleu/Ont le parfum des jours heureux/Rien n'a changé... Y a parait-il un jardin/Plus beau qu'ici/Un grand théâtre où mon amour/Joue et continue chaque jourD'aimer la vie......Năm 1962 Bài Moon River cua Henry Mancini từ Breakfast At Tiffany’s vừa chiếm được Oscar vừa Grammy Award bài ca hay nhất trong năm. Bài này qua tiếng hát của Frank Sinatra nghe như bềnh bồng trên dòng sông trăng. Nghệ sĩ da đen mù Ray Charles làm nên tên tuổi với You Don’t Know Me (1962) và Love Me With All Your Heart (1963).

 

Năm 1965 đánh dấu sự thành công rực rỡ của ban Rock’n’Roll The Rolling Stones với bản (You Can’t Get No) Satisfaction. Bài này  đứng nhất liên tiếp 12 tuần ở Anh và 14 tuần ở Mỹ trong khoảng  thời gian tư tháng 5 đến tháng 9. Tính đến nay Ban Rolling Stones đã có tới 37 bản nhạc nằm trong top 10 và ban nhạc này được xem là ban nhạc Rock số một thế giới.

 

Nửa thập niên sau của 60 là thời kỳ vàng son của nhạc thời trang Tây phương. Trong giai đoạn này mỗi năm đều có những tình khúc tuyệt vời. Bài đầu tiên tôi muốn nói là Yesterday (1965) của John Lenon và Paul McCartney, tính đến bây giờ có trên 3000 versions được coi như bài hát phổ thông nhất và được yêu chuộng nhất. Mười năm trước lúc Paul McCartney đến Winnipeg trình diễn tôi phải sắp hàng hai giờ đồng hồ ngoài trời -20 bách phân giữa tháng Hai để mua vé cho tháng tám trình diễn. Ba mươi nghìn cái vé  bán hết chỉ trong vòng 45 phút vì mấy chục phòng bán vé trong thành phố cùng mở một lúc và liên kết với nhau bằng computer.


Yesterday
All my troubles seemed so far away
Now it looks as though they're here to stay
Oh, I believe
In yesterday

Suddenly
I'm not half the man I used to be
There's a shadow hanging over me
Oh, yesterday
Came suddenly

Why she
Had to go I don't know
She wouldn't say
I said
Something wrong now I long
For yesterday

Yesterday
Love was such an easy game to play
Now I need a place to hide away
Oh, I believe
In yesterday

Why she
Had to go I don't know
She wouldn't say
I said
Something wrong now I long
For yesterday

Yesterday
Love was such an easy game to play
Now I need a place to hide away
Oh, I believe
In yesterday

(hum to "I believe in yesterday")


 

Beatles nói chung và Paul McCarney nói riêng viết nhiều ca khúc tuyệt vời, các nhạc sĩ khác chỉ ước mơ được một trong những bài này cũng đủ để tiếng đơi đời như Imagine, Fool on the Hill, Hello, Goodbye, Hey Jude, Let It Be… when the night is cloudy/There is still a light that shines on me/Shine on until tomorrow, let it be/I wake up to the sound of music…, When I Am 64, and The Long and Winding Road,  ListenTo What The man said (Paul McCarney and the Wings) và Michelle được giải Grammy năm 1967 bài hát hay nhất trong năm Michelle, ma belle./These are words that go together well /,My Michelle.

Michelle, ma belle/.Sont les mots qui vont tres bien ensemble/,Tres bien ensemble...Qua năm 1968 một bài dân ca (Folk) với lời thơ tuyệt vời do cô Joni Mitchell người nước tôi và cùng quê quán với Lê Quang Phò-Regina-sáng tác tựa Both Sides Now đã mang về cho Judy Collins giải Grammy bài dân ca hay nhất trong năm. Năm 1969 chính tác giả hát lại bản này và trở nên một bài dân ca thịnh hành và được yêu chuộng nhất  thế giới:

 


Bows and flows of angel hair and ice cream castles in the air

And feather canyons everywhere, i've looked at cloud that way.

But now they only block the sun, they rain and snow on everyone.

So many things i would have done but clouds got in my way.

 

I've looked at clouds from both sides now,

From up and down, and still somehow

It's cloud illusions i recall.

I really don't know clouds at all.

 

Moons and junes and ferris wheels, the dizzy dancing way you feel

As every fairy tale comes real; i've looked at love that way.

But now it's just another show. you leave 'em laughing when you go

And if you care, don't let them know, don't give yourself away.

 

I've looked at love from both sides now,

From give and take, and still somehow

It's love's illusions i recall.

I really don't know love at all.

 

Tears and fears and feeling proud to say "i love you" right out loud,

Dreams and schemes and circus crowds, i've looked at life that way.

But now old friends are acting strange, they shake their heads, they say

I've changed.

Something's lost but something's gained in living every day.

 

I've looked at life from both sides now,

From win and lose, and still somehow

It's life's illusions i recall.

I really don't know life at all.


 

Nói đến dân ca thì không thể bỏ qua Joan Baez, ca sĩ dân ca hàng đầu của Mỹ với bài The Night They Drove Old Dixie Down (1971). Joan Baez là người đã kết bè kết đảng với Jane Fonda tham gia phong trào chống chiến tranh Việt Nam. Một ngày trong muà Giáng Sinh  1972 lúc hai cô này viếng đường phố  Hà Nôi thì bị máy bay Mỹ dội bom thiếu chút nữa thì bỏ mạng. Về sau Joan Baez ly khai khỏi phong trào này có lẻ vì nhận ra hư thực thế nào.

 

Frank Sinatra trong năm này, 1969, thành công vượt bực với bài My Way mà chính ông lúc thâu âm cũng chỉ nghĩ là bản nhạc trung bình thôi. Bài này của Claude Francois (1939-1978) người Pháp, có tựa đề: Comme d’habitude do Paul Anka viết lời Anh và được rất nhiều nghệ sĩ hát nhưng bài của Sinatra bán chạy nhất và trở thành bài hát dính liền với tên tuổi ông. Ngay ở Âu Châu thì version tiêng Anh cũng thịnh hành hơn tiếng Pháp.

 

Một cặp song ca xuất hiện mấy năm trước đây, thoạt đầu thất bại nên bị rã đám nhưng sau khi một bài hát trong album đầu tiên cua họ bán rất chạy nên hai  người này tái hợp và thành công lớn lao với bài Bridge Over Troubled Water.

 

When you're weary, feeling small, when tears are in your eyes, I’ll dry them all.

I'm on your side, oh, when times get rough and friends just can't be found,

like a bridge over troubled water, I will lay me down.

Like a bridge over troubled water, I will lay me down.

 

When you're down and out, when you're on the street,

when evening falls so hard, I’ll comfort you.

I'll take your part, oh, when darkness comes and pain is all around,

like a bridge over troubled water, I will lay me down.

Like a bridge over troubled water, I will lay me down.

 

Sail on silver girl, sail on by. Your time has come to shine, All your dreams are on their way.

See how they shine, oh and when you need a friend, I'm sailing right behind

Like a bridge over troubled water, I will ease your mind.

Like a bridge over troubled water, I will ease your mind.

 

Đó là Paul Simon và Art Garfunkel. Tất cả nhạc phẩm của cặp song ca này đều do một mình Simon viết và ông được tạp chí Time chọn là một trong 100 người đã gọt dũa thế giới chúng ta đang sống. Riêng cá nhân tôi, tôi thích bài này từ đầu thập niên 70 lúc đi hành quân chung với  Mỹ. Sau khi đến Winnipeg 1975 thì đĩa này là đĩa đầu tiên tôi mua và từ đó mỗi lần nghe tôi phải nghe lại ít nhất hai lần. Bài Bridge Over Troubled Water làm tên tuổi Paull Simon và Art Garfunkel trở thành bất tử và trở nên bài hát được yêu chuộng nhất giữa thành phần sinh viên thanh niên khắp năm châu. Ngay cả lúc cặp song ca này chia tay, một mình Paul Simon đi lưu diễn vẫn được đón tiếp nồng nhiệt. Mười mấy năm trước khi Paul đến Winnipeg thì  vé được dành ưu tiên cho những ai có thẻ American Express. Gia đình tôi không có nên phải mua “đồ thừa đuôi thẹo” cách xa sân khấu đến hơn năm mươi mét mà vẫn trả đồng giá với vé hạng nhất. Bản Let It Be cũng vậy. Lúc có gì phiền buồn nghe vào thì cảm thấy dịu nhẹ nhiều lắm.

 

Đầu năm 1970 một ban nhạc từ Winnipeg, laị từ quê tôi nữa, The Guess Who đã xâm lăng thị trường Mỹ và chểm chệ ngồi vào vị trí số 1 với bản American Woman. Người đàn bà Mỹ đây là tương thần Tự Do và có  dư luận Mỹ cho là phản chiến. Bài này trong năm 2000 và 2005 được bầu là bài hay nhất cua Gia Nã Đại.

 

 Năm 1971 ca sĩ Rod Stewart từ Anh xâm lăng thị trường Mỹ với bài Maggie May (do anh và một người khác viết) và được xếp hạng đầu trong top 10 sau khi đã đạt được cùng vị thứ ở Anh.

 

Qua năm 1972 bài Without You do Pete Ham và Tom Evan sáng tác qua tiếng hát ca sĩ Mỹ Harry Nilsson đứng thứ nhất 4 tuần lễ liên tiếp trong nửa tháng 2 và tháng 3 ở Mỹ và Canada.

 


No I can't forget this evening

Or your face as you were leaving

But I guess that's just the way

The story goes

 

You always smile

But in your eyes

Your sorrow shows

Yes it shows

 

No I can't forget tomorrow

When I think of all my sorrow

When I had you there

But then I let you go

 

And now it's only fair

That I should let you know

What you should know

 

[Chorus:]

I can't live

If living is without you

I can't live

I can't give anymore

I can't live

If living is without you

I can't give

I can't give anymore

 

Well I can't forget this evening

Or your face as you were leaving

But I guess that's just the way

The story goes

 

You always smile

But in your eyes

Your sorrow shows

Yes it shows


 

Gordon Lightfoot, một người Gia Nã Đại khác,  trong thời kỳ này cũng viết rất nhiều bài dân ca (Folk song) nổi tiếng như If You Could Read My Mind (1971) và Sundown (1974) là bản dân ca số một của Gia Nã Đại và đứng đầu top 100 ở Mỹ. Một nhạc sĩ khác, Neil Young hiện tại trong ban tứ ca Cosby, Nash, Young, Still là người lớn lên ở Winnipeg viết bản Heart of Gold cũng được sắp hạng nhất trong top 100 ở Mỹ năm 1972.

 

Trong lúc đó bắt đầu thập niên 70, nước láng giềng ở phương Nam ban The Carpenters, gồm anh, em gái Richard va Karen Carpenter,  thành công với bài (They Belong To Be) Close To You (1970), Carole King với It’s Too Late (1971) và Carly Simon với You’re So Vain (1972). Bài You’re So Vain gây rất nhiều tranh luận giữa các nhà phê bình âm nhạc cũng như người nghe, ai kiêu căng? ai cao ngạo? Người thì cho là Mick Jagger của Rolling Stone, người thì nói là James Taylor (lúc đó là ý trung nhân cua nàng), người thì đoán tài tử Warren Beatty nhưng vẫn chưa ai vén được tấm màng bao phủ. Gần đây một số ký giả đặt lại câu hỏi với Carly, nàng trả lời tỉnh bơ: Đàn ông người nào cũng kiêu ngạo hết, cho nên không nhất thiết nói đến ai.

 

Năm 1972 một bài hát do Don McLean sáng tác và trình diễn đứng đầu liên tiếp 4 tuần lễ, đó là bài American Pie, bài này ẩn ý nói lên những biến đổi của nhac Rock từ ngày ba danh ca Rock: Buddy Holly, Richie Valens và J.P. Richardson bị tử thương trong tai nạn máy bay năm 1959 (ngày mà Don gọi là ngày âm nhạc tận số, the day music died) cho đến năm 1970 là lúc Don McLean viết American Pie. Điểm đáng nói là bài này được Hiệp Hội Bảo Tồn Văn Hóa Mỹ bầu sắp hạng thứ 5 trong  những bài hát thế kỷ 20. Có lẻ điều này làm anh chàng hơi tự kiêu và chê hết mọi ca nhạc sĩ khác của Mỹ. Thật ra thì anh chỉ có mỗi bản này thôi, 199 bản còn lại coi như quá xoàn không cần phải nghe đến nói chi cần nhớ. Lúc bản này còn đang thịnh hành vào cuối năm 1976 Don Mclean có qua trình diễn ở Winnipeg và không đủ lấp đầy rạp hát dưới 1000 chỗ. Tôi nhớ mình ngủ gà ngủ gật chờ nghe bài American Pie cuối buổi trình diễn. Một điều khá lạ, theo tác giả cho biết bản này viết lên để truy tặng ba danh tài nhạc Rock trên mà suốt trong ca khúc không hề nhắc đến tên một người nào. Cho đến ngày nay, 35 năm sau cũng chưa ai hiểu tại sao bài hát mang tên American Pie, ngay từ đầu nhiều người yêu cầu giải thích nhưng  tác giả từ khước và đề nghị mỗi người tự suy diễn lấy. Có một lần tác gia nói đùa: American Pie có nghĩa là suốt đời tôi không phải làm việc nữa. Ấy vậy mà đúng đấy, vì với tác quyền ông có thể suốt đời mua bánh Pie nuôi sống mình dư sức.

 

Năm 1974 bài Rock Me Gently do Andy Kim viết và trình diễn đứng hạng nhất ở Mỹ và hạng nhì ở Anh. Andy Kim sinh ở Montreal, lại một Cà-na-điên khác, tài ba hí! Trước đó vài năm  Andy Kim hợp tác với Jeff Barry viết bản Sugar, Sugar; bài này do ban Archies trình diễn và cũng được sắp hạng nhất  trong top 10 của Mỹ.

 

Năm 1975 các bài ListenTo What The Man Said của Paul McCartney và the Wings, One Of These Nights của ban Eagles, Lady Marmalade của  Bob Crewe và kenny Nolan viết do Ban Labelle trình diễn là nhưng bài hát hàng đầu trong năm. Bài cuối cùng, Lady Marmalade thuộc loại Disco và được xem như mở đầu cho thời kỳ loại nhạc khiêu vũ phòng trà này.

 

Tất cả những bài hát kể trên đều rất thịnh hành ở Saigon. Những năm có sự hiện diện đồ sộ quân đội Mỹ  ở Việt nam thì tất cả bản nhạc thời trang nào thịnh hành ở Mỹ đều có liền tại Viet nam. Thời điểm đó ngoài những ban nhạc trẻ Việt Nam còn nhiều ban nhạc trẻ Phi trình diễn giải trí cho binh sĩ Mỹ. Những bản Joy To The World, She’s a Lady, Delilah của Tom Jones; Peace Train của Cat Steven; I Got You Babe, Gypsys, Tramps and Thieves của Sonny and Cher, Love Story của Francis Lai từ phim cùng tên, A Time For Us của Henry Mancini từ phim Romeo and Juliet được chơi thường xuyên tại các căn cứ Mỹ.

 

Loại nhạc Tâm Linh –Inspiration – nghe vào làm tinh thần mình vương lên, dạt dào thương yêu, mình và đồng loại. Bạn không tin thử lắng nghe Impossible Dream (Từ phim Man Of La Mancha, 1972) do Frank Sinatra, Connis Francis hay Andy Williams hát. Bạn không tin thử lắng nghe Lean On Me do Al Green hay The Temptations trình bày. Bạn không tin thử lắng nghe Carole King hát You’ve Got A Friend. Bạn không tin thử lắng nghe I Can See It Clear Now do James Taylor hoặc Holy Coles diễn tả.

 

"The Impossible Dream"

Nhạc: Mitch Leigh, Lời: by Joe Darion


To dream the impossible dream

To fight the unbeatable foe

To bear with unbearable sorrow

To run where the brave dare not go

To right the unrightable wrong

To love pure and chaste from afar

To try when your arms are too weary

To reach the unreachable star

 

This is my quest

To follow that star

No matter how hopeless

No matter how far

 

To fight for the right

Without question or pause

To be willing to march into Hell

For a heavenly cause

 

And I know if I'll only be true

To this glorious quest

That my heart will lie peaceful and calm

When I'm laid to my rest

 

And the world will be better for this

That one man, scorned and covered with scars

Still strove with his last ounce of courage

To reach the unreachable star


 

*     *     *

Chúng ta đang sống trong một thời đại với những điều kiện siêu đẳng kỹ thuật ảnh hưởng sâu đậm mọi hình thái sinh hoạt của chúng ta, kể cả sự thưởng thức âm nhạc. Thưởng thức như thế nào và nghe theo cung cách nào. Từ giây phút được đánh thức bằng tiếng nhạc của đồng hồ báo hiệu, ta bắt đầu những sinh hoạt hằng ngày với âm nhạc. Nguồn nhạc có thể từ radio hay cassette hay CD trang bị trong xe. Có thể từ một CD chơi nhạc cầm tay hay Ipod mà ta mang theo trên lối bộ hành. Nguồn nhạc từ tiệm ăn, tiệm bán tạp hoá, nơi giải trí công cọng hay trong công sở. Ở nơi nào cũng có âm nhạc. Chúng ta có thể dự thính những buổi trình diễn, hoà tấu, những đại hội ngoài trời, từ dân ca thời trang, từ rock đến Jazz. Do đó dù không muốn thì lắm lúc cũng phải nghe thôi. Ngày xưa, ở Âu châu âm nhạc thuần khiết (absolute music) là thú tiêu khiển của thành phần vua chúa, quý tộc. Âm nhạc thuần khiết là nhạc không lời, tôi sẽ nói rộng trong bài 25 Năm Nghe Nhạc Cổ Điển Tây Phương, ở đây chỉ xin định nghĩa vắn tắt để xử dụng từ này. Ở Việt Nam chỉ có nhạc cung đình chứ làm gì có nhạc dân gian, ngay đến thập niên 60 ở Huế cũng chưa có mấy gia đình đủ phương tiện thưởng thức âm nhạc. Đó là một thiếu sót về mặt sinh hoạt tinh thần nhưng thời buổi ấy ai bận tâm đến khi chưa có đủ điều kiên nuôi dưỡng thể xác thì lo chi  bồi dưỡng tinh thần. Có lẻ vì vậy người mình mau già nua, cằn  cỗi.

 

Schopenhauer (1788-1860), triết gia Đức so sánh điều kiện con người như Bánh xe Ixion trong huyền thoại Hy lạp. Ixion là vua của Lapiths vì tội giết cha vợ nên bị ‘tập đoàn’ Thần khai trừ. Zeus là Thần của các vị Thần thấy vậy bèn cứu đem về sống trên núi Olympia nhưng anh chàng Ixion này chứng nào tật ấy, hồ đồ thô tục như nhân vật đáng yêu và gần gũi chúng ta nhất của Ngô Thừa Ân, Trư Ngộ Năng,  sỗ sàng đòi ân ái với Hera, vợ của Thần Zeus. Để trừng phạt Zeus  buộc Ixion vào bánh xe làm cho  đời đời lăn lốc trong không gian. Giống như Ixion, chúng ta bị trói buộc  vào cái  nguyên tắc hay ngũ uẩn mà từ đó chúng ta dùng làm tâm điểm quay quanh đời đời mà không vơi bớt khổ đau.

 

Tuy nhiên, may mắn thay, không giống như Ixion trong huyền thoại, ít nhất chúng ta cũng có phương tiện để tạm thời thoát khỏi bánh xe đời, bánh xe nguyên tắc. Đó là nghệ thuật. Âm nhạc thuần khiết  là một hình thái nghệ thuật rất đặc biệt  dưới mắt Schopenhauer. Nó có năng lực giải phóng con người tạm thời ra khỏi bánh xe đời nghiệt ngã. Chúng ta cần những giây phút tạm bợ đó để hồi phục quân bình, để vượt qua cơn khủng hoảng, để lướt thắng cơn mê loạn. Nghe nhạc chăm chú thì cũng như thiền định thôi, thay vì dùng công án để dằn  lại cái tâm viên cho con ngựa ý khỏi vịn cớ đuổi bắt tìm về, thì âm nhạc có thể dằn tâm trí mình khỏi vương dậy lao xao, hiềm thù người này, ghét bỏ người khác. Mưu mô chuyện này, lọc lừa chuyện khác. Nghe nhạc hay nghe tụng kinh cũng vậy, khi dồn tâm trí vào câu kinh là lúc mình quên những bất như ý, lúc mình chìm lắng trong tiếng nhạc là lúc mình tạm thời quên được tức bực.

 

Nói như lời Phật dạy thì âm nhạc là một loại kim cương bất hoại, một loại quý kiếm chặt sắt như chém bùn, có khả năng bứng tận gốc rễ ngũ trược ra khỏi cái tâm con người. Hay nói cách khác âm nhạc có khả năng làm bốc hơi ngũ uẩn rắn  chắc  như kim cương bất hoại  theo gió bay đi. Gone with the wind/ Autant en emporte le vent/ Vom Winde verweht. Mô Phật!

 

Lê Tất Đạt

Winnipeg, 27/03/07