HUẾ TRONG TÔI
Lê
Tất Đạt
Huế
trong tôi vẫn êm đềm.
Nhà tôi ở đầu
xóm hoái, làng Dưỡng Mong, cách con đường cái quan
chừng hai trăm mét, bên kia đường
là đồn lính bảo vệ.
Con đường cái quan này chạy từ Tây thượng
về đến làng Chuồn hay một địa điểm
xa xăm nào đó mà cho đến khi lớn lên rời khỏi
làng tôi chưa kịp t́m hiểu th́ phải đành đoạn
đi xa.
Tôi chỉ biết làng Chuồn là
đất tổ của họ Hồ, một gịng họ
khoa bảng tiếng tăm đất Thừa thiên, đă sản
xuất ra nhiều tay kiệt
xuất trong đó có Bác sĩ
Hồ Đắc Di, người sáng lập trường Y
khoa đầu tiên của Việt Nam ở Hà Nội là một.
Từ đồn lính lên đến Tây thượng c̣n phải
qua hai lô cốt, điểm chận xét kỹ càng mọi sự
di chuyển từ dinh về hay ngược lại.Qua khỏi
lô cốt thứ hai là vùng quốc gia kiểm soát, vùng Tây
thượng với chợ xuân Gia lạc hàng năm nhóm họp
vào ba ngày Tết.
Chợ này do Đinh Viễn
Công Nguyễn Phước B́nh, con thứ tư của vua
Gia Long lập ra dưới thời Minh Mạng, cách đây
trên dưới một trăm tám chục năm. Lúc đầu chỉ là nơi tập trung vui
chơi của các ông Hoàng, bà
Chúa, dần dần trở nên không những là nơi tụ
điểm hấp dẫn mà c̣n là nơi trao đổi,
buôn bán. Chợ họp từ sáng tinh sương đến
lúc hoàng hôn, ở đây bày bán mọi mặt hàng hoá, từ
đồ sứ đến đồ sành, từ hoa trái
tươi đến thịt, cá, tôm, cua sống. Từ bún phở đến bánh bèo, bánh ướt.
Đặc biệt ở đây có món thịt heo quay và thịt
bê thui ngon nổi tiếng. Bên cạnh bán buôn
c̣n có những tṛ chơi đen đỏ như bài cḥi, nhất
lục, bài vụ và bầu cua cá cọp. Bài cḥi là nét
đặc trưng của chợ xuân Gia lạc, với giọng
hô thai trầm bổng, xen chút tiếu lâm, người chạy
bài đă làm cho khách chơi lúc thích thú, lúc hồi hộp, lúc
rộn ràng, lúc chau mày, lúc hí hửng nghĩa là qua đủ
bảy trạng thái thất t́nh hỷ, nộ, ai, lạc,
ái, ố dục để chờ con bài tới của ḿnh
được xướng lên. Khách thưởng
ngoạn ở đây hầu hết không phải v́ nhu cầu
mua sắm mà v́ một tập tục lâu đời, người
Huế mừng xuân đầy đủ th́ không thể thiếu
một ṿng du hành chợ xuân Gia lạc. Nơi đây dập
d́u nam thanh, nữ tú áo quần bảnh bao, lời ăn tiếng
nói nhẹ nhàng, khiêm tốn, dáng điệu tao nhă, khoan thai
nhằm thể hiện truyền thống văn hóa đất
thần kinh.
Tiếp tục tây tiến
con đường cái quan xuyên qua thôn Vĩ
dạ. Thôn này đă được Hàn Mặc Tử(1912-1940) thiên thu hoá qua bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ
Sao anh không về chơi thôn Vỹ?
Nh́n nắng hàng cau, nắng mới lên,
Vườn ai mướt quá xanh như
ngọc
Lá trúc che
ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây
đường mây
Ḍng nước buồn thiu, hoa bắp
lay...
Thuyền ai đậu bến sông
trăng đó,
Có chở
trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách
đường xa,
Áo em trắng quá nh́n không ra...
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết t́nh ai có đậm đà
Ở thôn Vĩ Dạ
cuối thập niên năm mươi hay đầu thập
niên sáu mươi có một rạp chiếu bóng ngay chợ.
Chủ rạp này là Lê Hoàng Hoa. Theo những
điều ông nói trong tạp chí Thông Tin Hoa Kỳ thời
đó th́ ông qua Mỹ chữa bệnh lao, sau thời gian
lành bệnh ở Mỹ ông lân la ở các phim trường
xuất hiện trong các phim cao bồi kiếm tiền
mưu sinh. Nếu bị bắn mà ngă lăn
đùng ra chết không cục cựa th́ lănh được
3 đô, nếu c̣n gượng dậy rồi quỵ xuống
th́ được trả 5 đô. Đại
khái càng thêm được giây nào th́ được trả
thêm chừng đó. Ông cho biết chỉ học chụp
ành một thời gian ngắn vậy mà sau này cũng trở
thành đạo diễn. Rạp Vĩ Dạ khai
trương với phim Ivanhoe(1952),
phim này mấy năm trước đó đă chiếu tại
rạp Tân Tân, là một phim khá nổi tiếng và quy tụ
hai tài tử lừng danh đương thời Robert Taylor
và Elizabeth Taylor. Không ai ngạc nhiên khi thấy
rạp đóng cửa chỉ sau chừng nửa năm v́
trước đó các rạp Richard ở đường
Ngă Giữa và rạp Nguyễn Văn Yến ở khách sạn
Morin cũng đă bị bức tử.
Huế
trong tôi vẫn ngọt ngào.
Thầy giáo đầu
tiên tôi vẫn c̣n nhớ là thầy giáo Chữ. Thầy giáo già dạy học
trong làng qua mấy thế hệ. Thuở đó mỗi học
tṛ đi học đều phải có một ống tre, một
đầu để hở pḥng lúc đang học mà Tây về
th́ đút vở vào ống tre vất vào bụi tre ven
đường, chờ lúc Tây đi th́ lấy ra . Nhưng
suốt cả thời gian tôi theo học
với thầy biến cố chỉ có xảy ra một lần.
Vui ghê, đứa nào cũng cầu mong được Tây về
bố ráp để được thầy giục vất tập vào bụi vỏn vẹn mấy chữ i tờ .
Đường
đi ngoắt ngoéo chữ chi
Hố
ngang hố dọc chữ I
chữ Tờ
Thằng
Tây mà cứ vẩn vơ
Cái
hố này chờ chôn sống mày đây
(Tố Hữu)
Măi đến khi về thành Tây thượng, tôi mới có dịp học
a
bê cê dắt dê đi ị,
a ă
â dắt vợ đi
chơi. Vậy là mới bảy tuổi
đă học chương tŕnh Tây rồi đó, hèn chi lớn
lên được “xuất dương” là phải rồi.
Ở trường tiểu học Ngọc Anh tôi c̣n giữ
một kỷ niệm đẹp, bạn học có thằng
Đoàn, trắng trẻo, đẹp trai và hiền như
con gái, hắn ở nhà tên Bé , cái tên có ǵ xấu đâu rứa
mà hắn mắc cở nên năn nỉ tôi đừng nói
cho lớp biết. Tôi không nhớ ḿnh có làm tiền hắn
không nhưng đôi lúc hứng th́ chờ hắn đi ngang rồi
theo sau bắt đương sự xuống nước
chơi. Hồi đó tôi chỉ học một buổi sáng,
buổi chiều lang thang bắt
ve sầu, chuồn chuồn voi hay đi sâu vào xóm La ỷ dọc
bờ sông Hương và cảm thấy lạnh ḿnh khi nghĩ
đến những con ma rà ngồi
xơa tóc bên bờ mà các người lớn thường kể
cho nhau nghe.
Tôi c̣n ắp
đầy kư ức về Huế.
Khi lên ở đường
chợ Cống về
sau đổi Nguyễn Công Trứ tôi theo học trường
Lư Thường Kiệt, gần sân vận động Bảo
Long. Tôi nhớ không lầm th́ trường có hai nhánh làm
thành chữ V, ngoài ngơ có ‘mụ’
bán bắp nướng, một lần tôi bị mắng, mi
không được gọi tau bằng mụ, gọi tau bằng
bác hay bằng bà, mụ là mụ ăn mày. Nhưng
đâu phải vậy, tôi vẫn gọi những người
em mệ bằng mụ, mụ
Bố (chồng làm Bố chánh), mụ
Tư (làm vợ thứ tư), mụ
Tôn (chồng là tôn thất). Vậy Huế ḿnh xưng hô cũng
rắc rối
ghê hí. Như chữ cụ
th́ vừa trịnh trọng vừa bông lơn: cụ Đốc Phủ Sứ,
cụ Đốc học, Cụ
Thượng thư hay cụ
mi, nghe vừa gần vừa xa, vừa thân vừa sơ, vừa
trịch thượng vừa ngang lứa, cách xưng hô mà Hồ
Phùng vẫn c̣n dùng với bè bạn
bán thân bán sơ.
Cuối
năm 1952 giới ghiền phim ảnh ở Huế xôn xao với
cuốn phim Quo Vadis (1951) chiếu
ở rạp Gia Hội Hí Viện. Phim này lấy bối cảnh La Mă về
bạo chúa Néron, vị vua mà khi thành bị đốt cháy vẫn
c̣n ôm đàn gảy cà tưng. Đây là một
cuốn phim vĩ đại phải mất ba năm thực
hiện với tài tử lừng danh Robert Taylor. Tôi nhằc đến
phim này v́ từ ngày đó tôi bị ‘vướng’ vào nghệ thuật thứ bảy
và nghiệp ấy vẫn c̣n đeo đẳng đến
ngày nay. Những năm ở Quốc Học
h́nh như tôi xem hết tất cả các phim chiếu ở
Huế, Tây Tàu Nhật Ấn không tha. Trong số bạn chỉ
có một đứa xem nhiều
bằng tôi đó là Đính mặt ngựa, Nguyễn Văn
Đính thuốc lá cẩm lệ bà Cửu Ới ở
đường Trần Hưng Đạo. Đính học
Nguyễn Tri Phương vào ban C Quốc Học, hắn theo Chính Trị Kinh Doanh Đại học
Đà Lạt một năm rồi đi Pháp. Ngoài bốn mươi
năm tôi không nghe tin tức ǵ của hắn.
Huế trong tôi vẫn
rơ ràng.
Trung thu 1953 học sinh
tiểu học trong thị xă Huế được ăn
Tết nhi đồng do Hoàng Đế Bảo Đại
khoản đăi tại Tam toà, đêm đó trời mưa tầm
tă và qua sáng hôm sau, mở mắt ra bốn bề nuớc ngập
mênh mông. Trận lụt khủng khiếp, cầu
Trường tiền chỉ c̣n sáu nhịp.
Cầu
trường tiền sáu vài mười hai nhịp,
Mất ba vài anh kịp về không?
Gia
đ́nh tôi hồi đó đă dời về Băi dâu. Căn nhà tranh nước lên chấm
mái. Nhưng nuớc càng lên th́ minh càng kê giường
cao lên có sao, thế lại vui nữa.
Cuối năm 1953 tôi được chuyển
về trường Phú Mỹ để gần nhà ở Băi
dâu. Những năm ở đây tôi chơi thân với Nguyễn
Đắc Xuân nhà ở đường bến đ̣ Cạn
(sau đổi thành Cao Bá Quát), năm lớp nh́ hắn
đă biết đúc bàn tay sắt, khiếp
chưa? Hắn làm khuôn trên mặt đất xong nấu ch́
đổ vào thành một khung vừa lồng đủ bốn
ngón tay. Tôi không nhớ ḿnh kết bè kết
đảng đi sinh sự với ai bao giờ, hắn chỉ
ḷe chơi thôi, nhưng hắn với tôi bị quỳ gối
trước mặt con gái v́ tội bỏ học đi xem
ciné cọp bị thầy Kiểm bắt gặp.
Nói về con gái th́
năm đó có mấy chị khá lớn, đi học mặc
áo dài. Tôi nhớ ngồi ngay sau lưng chị Hoà, con thầy
Trâm nhà đối diện trường, thầy làm hiệu
trưởng một trường khác. Khoảng đầu
thập niên bảy mươi, trên chuyến xe
Lam từ chợ Đông ba về chợ Dinh, tôi ngồi
đối diện với một người đàn bà
trung niên, chị nh́n tôi thân thiện mà có vẻ ḍ hỏi. Một
lát sau chị lên tiếng, mi có phải Đạt không, Hoà
đây, Hoà con thầy trợ Trâm ở trước mặt
trường Phú Mỹ, ngày xưa mi hay buộc áo tau vào ghế,
một lần tau bị ngă thầy Kiểm biết
được bắt mi lên bảng quỳ, mi c̣n nhớ
không. A, chị Hoà hả, tôi nhớ ra rồi, đă ngoài hai
mươi lăm năm mà chị c̣n nhớ rơ thế, tôi rời
khỏi Huế hơn mười năm nay, mới về
cách đây hai hôm. Đó là lần cuối cùng tôi gặp một
người bạn học chung thời
tiểu học.
Năm lớp nhất
tôi nhớ trường cho đi xem ciné hai lần cùng với
nhiều trường khác: lần thứ nhất phim hoạt
họa Disney: Peter Pan(1953). Phim
này về sau tôi phải xem đi xem lại hàng chục lần
theo đà khôn lớn của ba đứa
con. Càng xem càng thấy ḿnh trẻ măi như
nhân vật Peter Pan không bao giờ trưởng thành. Lần thứ
hai phim Ánh Đèn Sân Khấu/Les
Feux de la Rampe/Limelight (1952). Phim này được Charles
Chaplin vưà viết truyện phim, vừa phân cảnh, vừa
đạo diễn, vừa đóng vai chánh và vừa viết
nhạc: bản nhạc bất hủ, Ánh Đèn Màu/Eternally. Ở phần cuối Chaplin
mê man chơi đàn vĩ cầm cho đến khi ông bị
té khỏi sân khấu rớt vào chiếc trống và vẫn
tiếp tục kéo đàn réo rắt, ánh sáng mờ dần
trong vọng âm buồn áo năo.
Tôi nhớ ḿnh đă khóc. Tôi c̣n yêu bản nhạc ấy
đến bây giờ.
Eternally
I’ll be loving you,
Eternally
With a love that’s true
Eternally,
From the start within my heart it seems I’ve always known
The sun would shine when you were mine and mine alone.
I’ll be loving you,
Eternally
There’ll be no-one new, my dear, for me.
Though the sky should fall remember I shall always be
Forever true and loving you
Eternally.
Ánh Đèn Mầu
Đời
ca hát ngày tháng cho người mua vui.
Đời son phấn
làm mất bao ngày thơ ngây.
Cùng bên ánh mầu
sắc lạc lơng trong tiếng đàn hát đêm khuya.
Rồi bao nếp
nhăn về với tháng năm đời lăng quên rồi.
Buồn trong tiếng nhạc lắng
cho đời mê say.
Cười trong ánh đèn sáng
cho người mua vui.
Rồi khi ánh đèn tắt lặng
lẽ cô đơn.
Ch́m theo bóng
đêm, người ta lăng quên bẽ bàng
Đời
ca hát ngày tháng cho người mua vui…
(lời Việt Nguyễn Xuân Vỹ)
Năm cuối cùng tôi
học ở đây là một một khúc quanh lịch sử,
một thay đổi thể chế mà vị vua cuối
cùng Triều Nguyễn đành thúc thủ trước ngọn
gió dân chủ do người Mỹ dàn xếp mà đại
diện là Ngô Đ́nh Diệm. Tôi nhớ ḿnh nhỏ con nên
được trèo thang lên hạ h́nh Bảo Đại treo
trên tường trước mặt lớp. Vậy là tôi
làm cách mạng đấy nhé! Kh́ếp mới mười mấy
tuổi đầu! Và có lẽ bị gịng máu nóng cách mạng đốt
cháy hết chữ nghĩa nên năm đó tôi không vào
được Nguyễn Tri Phương.
Ở Bồ Đề
Thành Nội, cô Mộng Liên dạy toán, lần đầu
tiên tôi nghe tên viện bảo tàng Louvre! Ngay buổi học
đầu tiên cô đă thao thao bất tuyệt, MÉT là đơn vị đo
lường quốc tế mà mẫu mực được
tàng trữ tại bảo tàng viện Louvre ở thủ
đô
Niên học đó cô Kim
Quy dạy Anh văn, mỗi tuần cô bắt làm bài tập
ở lớp một lần, thông thường th́ viết
ra tất cả những chữ đă học trong tuần.
Tôi v́ mèo mù vớ phải cá rán, một lần viết trúng
hết luôn mười chữ từ đó được
chú ư nên phải học trối chết để duy tŕ. Nhờ
cô mà sau này chơi đánh chữ với Trần văn Nghĩa,
Hồ Đăng Toàn và Phạm Lương Cơ mới
được nghiêng ngửa
nếu không th́ bị nuốt lốn mất v́ tụi
nó con nhà giàu được học hội Việt Mỹ.
Thầy
Cơ dạy Pháp văn, mỗi lần bước qua khỏi
cửa lớp là thầy nói tiếng Tây như mưa rào, ào
ạt như nước đổ…xuống đám học
tṛ đầu vịt.
Thầy Tôn Thất Tiết
dạy nhạc được vài tháng th́ đi Pháp, sau này
nhạc sĩ Tôn Thất Tiết soạn nhạc cho phim Mùi Đu Đủ Xanh/L’Odeur de la
Papaye Verte/Scent of Green Papaya (1994) của đạo diễn
Trần Anh Hùng.
Cùng năm đó thầy
Minh Châu đi du học Ấn độ. Thầy Đức
Tâm chủ nhiệm nguyệt san Liên
Hoa dạy Giáo lư. Tôi bị phạt quỳ bên ngoài cửa
lớp v́ tội không học Phật pháp. May ghê, chưa học
Phật mà có thời c̣n muốn đi tu nếu hồi
đó mà học Phật th́ bây giờ đâu được
làm chồng Thư Hương.
Thầy Tùng dạy Sử
Địa năm đệ thất Nguyễn Tri
Phương truyền thụ một chiêu pháp mà gần
năm mươi năm sau tôi vẫn c̣n nhớ như in. Hầu
như cứ mỗi đầu giờ th́ việc đầu
tiên là thầy bắt một đứa nào đứng lên
niệm thần chú: “Mạ hề hề, con hỡi con, bồng
em cho chị, xuống sông qua đ̣”.Mạ hề hề (Mahé), Con hỡi con (Karaikan), Bồng
em cho chị (Pondichéry), Xuống
sông qua đ̣ (Yanam) đó là tên bốn cựu thuộc địa của Pháp ở
Ấn độ. Thầy Tùng tính hơi bất thường,
thầy thấy đứa nào đội nón cối mà để
loang lổ th́ giật xuống
dẫm nát, khi nạn nhân khóc lóc thầy lại cho tiền
mua nón mới. Nhiều đứa lợi dụng, đội
nón cũ lảng vảng quanh thầy để hy vọng
được nón mới. Sự thể ra sao thật ra tôi
cũng chưa được thấy tận mắt.
Nhưng rơ ràng thầy không được b́nh thường
lắm. Bảy năm sau khi hết làm học tṛ của thầy, tôi
trở thành bạn đông
liêu, ngồi bên cạnh thầy ở trường Luật
Khoa. Ngày đó thầy dịch bài quốc ca ra tiếng Anh,
và ngạc nhiên thay, theo thầy cho biết th́ thầy mới
học tiếng Anh sau này mà thầy dịch tôi không thấy
được chỗ sai dù không biết chắc có đúng
hẳn không.
Khuôn mặt thứ hai
mà tôi vẫn nhớ rơ là thầy Niên, thầy dạy Việt
văn, mỗi lần kể chuyện đường rừng
của Thế Lữ th́ cả lớp như bị thôi
miên.
Thầy Hồ Nghinh dạy
Vạn vật lái chiếc Volkswagen
đầu tiên ở Huế, thầy Hiệu trưởng
Lê Khắc Tố dạy Đức dục, mang cặp kính
trắng rất ư đạo mạo,
Thầy Tống Viết
Mẫn dạy Anh văn, dáng người bạch diện
thư sinh. Tôi nhớ Dũng
nhà ở
Thầy Dương Minh Ninh dạy Nhạc,
được nửa năm th́ thầy đi du học ở
Pháp, thầy là tác giả bản Gấm
Vàng sau này tôi không c̣n nghe tin thầy và cũng chẳng thấy
sáng tác nào mới của thầy. Tôi cố nhưng không nhớ
ra thầy dạy Toán và Pháp văn.
Năm đệ Thất
tôi chơi thân với Nguyễn Văn Thử và dù lên đệ
Tam hắn theo ban C, hai đưá tôi vẫn giữ thâm t́nh mật
thiết, hắn có bàn tay tài hoa có giọng hát trầm ấm,
giọng hát mà bác Đại, thân phụ Trần Văn Nghĩa
gọi là Tino Rossi Việt nam. Nhà Nguyễn Văn Thử
chung hàng rào với nhà người đẹp xôn xao yến
oanh đầu ngơ: Đặng Thị Hẹ. Nếu muốn
mô tả người đẹp Đặng thị Hẹ
th́ tốt hơn hết là mượn lời Ôn Như Hầu:
Ch́m dưới nước cá lờ đờ lặn
Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa
Khung trời đắm nguyệt say hoa
Tây Thi mất vía Hằng Nga giật ḿnh.
(trích câu 17-20: Cung Oán Ngâm Khúc)
Một người
đẹp của Huế ḿnh phải cần bốn người
đẹp nhất của Trung Hoa ngày xưa cùng với Hằng Nga hợp lại
mới so sánh được:
-Tây Thi lạc nhạn (nhạn
sa).
-Vương Tường
Chiêu Quân trầm ngư (cá lặn).
-Điêu Thuyền bế
nguyệt (trăng thẹn)
-Dương Quư Phi say hoa (hoa
nhường)
Nếu các bạn không
tin th́ cứ hỏi Phạm Lương Cơ, hắn là một
học sinh xuất sắc cớ sao lại đi học
hè. Rơ ràng là hắn chỉ viện cớ để lăn
theo gót hài. Và c̣n rất nhiều đưá nữa trong
đó hẳn nhiên có tôi đi nạp tiền làm giàu cho thầy
Trực. Nhắc đến thầy Trực th́ lớp hè của
thầy năm nào có người đẹp th́ đông nghẹt,
không biết tôi theo học thầy bao nhiêu khoá duy có một
lá bùa thầy cho, tôi vẫn dùng pḥng thân trong mấy năm
trung học và ngày nay vẫn c̣n
nhớ để thỉnh thoảng mang ra loè mấy đưá con chơi.
T́m
Sin lấy Đối chia
Huyền.
Cosin hai cạnh Kề Huyền
chia nhau.
C̣n Tang ta hăy tính sau,
Đối trên Kề
dưới chia nhau thấy liền.
(Côtang th́ mgược lại với
tang)
Côtang
tính cũng chẳng phiền
Kề trên đối dưới
tính liền ra ngay (Phạm Cơ bổ sung)
Ngoài ra c̣n một câu châm ngôn của Napoléon mà thầy Trực
bảo học tṛ viết vào trang đầu tập vở
toán hè năm đệ Ngũ :
En mathématique comme en la
stratégie, le genie n’est qu’une longue patience/Về Toán học cũng
như về chiến lược, thiên tài chỉ là một
sự bền chí lâu dài.
Nguyễn Văn Thử sau khi tốt nghiệp sư
phạm Quy Nhơn, về dạy ở Đà Lạt, lấy
xong cử nhân Anh Văn. Lần cuối tôi gặp là vài
tháng trước khi mất Sàig̣n. Sau này theo lời Hồ
Đắc Duy th́ Thử mất ở bệnh viện Chợ Rẫy.
Năm đệ Thất có một biến cố khá lạ
lùng mà măi về sau tôi vẫn không hiểu rơ sự t́nh. Trong
lớp hồi đó có Bảo Thạch, nhà hắn ở
đường Gia Hội, gần tiệm bún ḅ Mụ Rớt.
Cái biến cố cho gia đ́nh Bảo Thạch h́nh như
thảm khốc lắm, ông bố là bác sĩ đă giết
chết cả gia đ́nh trong giấc ngủ bằng một
loại acid cực mạnh và
tự tử luôn. Chỉ có mỗi một ḿnh Bảo
Thạch sống sót. Người ta bàn tán nhiều lắm
nhưng ít ai biết rơ sự t́nh. Sau đó Bảo Thạch
đi nơi khác và từ đó tôi không c̣n nghe tin tức ǵ của
Thạch.
Qua năm đệ Lục không có ǵ quá nổi bật
nhưng năm đệ ngũ th́ có hai thầy giáo đáng nhớ nhất;
Thầy Tuân dạy Anh Văn và thầy Mai dạy Việt
văn.
Việc đầu tiên khi thầy Tuân bước vào lớp
th́ một tṛ nào đó phải xuống bếp mụ cai
trường lấy lên một cây củi than c̣n cháy. Thầy hút thuốc lá cẩm lệ liên
tục cho đến hết giờ. Học tṛ hồi
đó coi thầy như một quyển tự điển
sống, cũng phải thôi, v́ trước đó thầy
làm Thông dịch viên cho Ủy Hội Quốc Tế Kiểm
Soát Đ́nh Chiến.
C̣n thầy Mai, hẳn
nhiên tôi không thể quên v́ suốt năm học đó tôi
đứng đầu Việt văn. Ngoài điểm ấy
ra mọi tṛ khác phải nhớ thầy v́ thầy mặc
quần bó chả nói tiếng Bắc, có bà vợ tân kỳ
và nhất là người từ Sài g̣n bổ ra. Thầy giảng
Chinh Phụ Ngâm mê say. Thầy vừa đi vừa đút
tay túi quần sau, có thói quen ngồi trên mép bàn, dáng điệu
trẻ trung, và quá mới so với tiêu chuẩn nhà giáo Huế
thời bấy giờ. Thầy nói tiếng Bắc hay đến
nỗi mới đây Ngô Viết Trọng c̣n ngạc nhiên hỏi
tôi, ủa vậy ông Mai là
người Huế sao . Vâng ông ấy một trăm phần
trăm Huế.
Cũng năm này tôi và
Trần Đại Hiền làm bích báo lớp. H́nh như Hiền
làm chủ nhiệm th́ phải v́ hắn đẹp trai và có
dáng dấp văn nghệ, hèn chi sau này hắn có một
đứa con thành công trên lănh vực nghệ thuật. Trong
những bài gửi hợp tác
có bài thơ kư tên Đơn
Thương Hạnh, tội nghiệp Đơn sau
đó bị thầy hướng dẫn mắng vốn v́
đem tên người yêu ra khoe, nếu là ngày nay th́ coi
như thầy xâm phạm riêng tư. (Chuyện này xảy ra năm đệ tam hay đệ
nhị với thầy Trương Quư Địch:”:Anh Đơn Anh thương ai th́
thương chớ đừng viết lên báo của lớp
nghe)(Phạm Cơ chú thích)
Năm đệ Tứ
thầy Hoành (có tiệm bán gạo ở đường
Hàng Bè) dạy Việt văn nhưng hôm nào đi dạy mà
quên mang theo quyển Việt Nam Thi Văn Giảng Luận của
Hà Như Chi là thầy cho các tṛ làm ǵ th́ làm, đem môn khác ra
mà học miễn đừng làm ồn. Một hôm thầy
giảng bốn chữ NGÂY THƠ BÁCH DIỆP một cách rất
trịnh trọng. Ngây thơ
là ngây thơ, các tṛ biết rồi. Bách là trăm. Diệp
là lá. Ngây thơ bách diệp là ngây thơ trăm lá, nghĩa
là ngây thơ nhưng mà tra lắm. Thầy giảng
xong xoa tay đắc chí rồi
nghiêm trang nói: tṛ Đồng Sĩ
Bé, tṛ là người họ Đồng thuộc Mậu tài
đại xă, một gịng họ trâm anh thế phiệt, tṛ
đứng lên lập lại cho thầy nghe sướng
cái chơi. Ấy chết một câu như vậy mà phải
đ̣i hỏi một cậu học sinh đệ Tứ
thuộc gịng họ trâm anh thế phiệt làng Mậu tài
đại xă mới lập lại được. Tôi thắc
mắc và tự thử sức ḿnh, mấy lần lập lại
đúng y bon và tự hào coi
như ḿnh cũng thông minh nhất
nam tử, cũng thuộc gịng họ trâm anh thế phiệt
nào đây.
C̣n thầy Lê Xuân
Đích hồi đó mới đi Tây về nên thầy hay kể
đến bộ vét mặc được hai bề cả
trong lẫn ngoài. Thầy dạy Anh văn từ quyển
song ngữ Anh Pháp L’anglais Vivant
của Barrat. Một hôm thầy dịch một đoạn
ra Việt văn, tôi đứng dậy tỏ ra không đồng
ư, thầy nh́n trở lại vào sách một lúc rồi nói, thầy
không thể sai được v́ thầy dịch từ tiếng
Pháp. Làm sao tôi dám căi, thầy là tác giả một trong những
quyển Văn Phạm Anh Văn đầu tiên ngày đó
mà ngoài b́a ghi, tác giả: Lê Xuân Đích, tốt nghiệp Ngữ
Học Paris. A, té ra thầy dạy Anh văn bằng tiếng
Pháp.
Năm đệ Tứ
có Nguyễn Đức Trung trí nhớ như gương
soi. Hắn trả bài vạn vật,
sử địa trơn tru hơn tôi nh́n sách đọc ra,
không lạ ǵ về sau đương sự vào sư phạm
Sử Điạ. Không biết có bạn nào c̣n nhớ trên
đường Trần Hưng Đạo, khoảng giữa
rạp Tân Tân và nhà sách Gia Long có một tiệm sách sống
sót chỉ chừng trên dưới một năm, đó là
tiệm Thống Nhất của gia đ́nh Nguyễn Đức
Trung. Trung có ông anh Kiến trúc sư, cũng văn nghệ lắm
v́ hồi đó đă đặt lời Việt cho bản
nhạc Sayonara từ cuốn
phim mang cùng tên do hai tài tử Mỹ và Nhật Marlon
Brando& Milko Taka đóng vai chính. Phim này được thực
hiện năm 1957 nói về mối t́nh Mỹ-Nhật
mười hai năm sau ngày hai trái bom nguyên tử có ẩn
danh “Little Boy” rơi xuống
Hiroshima ngày mồng 6 tháng 8 năm 1945 và “Fat Man” ở Nagasaki ba
hôm sau đó.
Bốn năm trung học
đệ nhất cấp rồi cũng qua theo nắng sớm
mưa chiều, rồi mọi chuyện cũng êm xuôi và tôi
vẫn thi đỗ thành chung vẫn bước qua
được cổng trường nghiêm trang bề thế.
Quốc Học đệ Tam với thầy T. dạy Toán,
thầy coi môn đồ của thầy như một lũ
súc sinh mỗi khi thầy đánh bạc thua; may thầy chỉ
dạy mấy tháng th́ bị
động viên, điều này chứng tỏ thầy chỉ
là một kẻ dạy giờ, nhất
tự vi sư bán tự vi sư, hèn chi rất là phi sư phạm.
Năm đệ nhị
tôi ngồi chung bàn đầu với Phạm Lương Cơ và Hồ
Đăng Toàn, cả ba đứa Anh văn ngang ngửa.
Trong một bài dich ra Việt ngữ do thầy Vĩnh Quyền
cho có một đoạn rất khó. Đứa này không nghĩ
hai đứa kia dịch được nên thằng nào cũng
đắc chí hai thằng quỷ kia phen này bó tay rồi, ngờ
đâu lúc trả bài cả ba đều dịch giống
nhau y hệt. Thầy Vĩnh Quyền biết khả
năng học tṛ thầy nên không có ư nghi ngờ ǵ.Thầy
Vĩnh Quyền là một vị giáo sư chừng mực.
Mọi thứ chừng mực. Phục sức, đ́ đứng,
nói năng, cung cách. Thầy thể hiện đúng vai
tṛ một nhà giáo mà mọi
người mong chờ. Cả ba đứa năm đó
suưt bị đưa ra Hội Đồng Kỷ Luật v́
bị giáo sư Việt văn cho là xấc láo, cậy thế
học giỏi, ư nói Cơ và Toàn, không coi môn Việt văn
ra ǵ, cười giỡn trong lớp lúc thầy giảng
bài. Thực ra là tại thằng quỷ Phạm Luơng
Cơ hắn làm tṛ ảo thuật rẻ tiền mà tôi và thằng
Toàn cứ cười khúc khích. Nếu hồi đó không có
thầy Phú dạy Sử Địa can thiệp th́ chắc
bây giờ không có tên trong danh sách QH đâu. (Thầy dạy Việt văn này là Hoàng Phủ Ngọc
Tường….(Chú thich của Pham Cơ)
Lần trộn lớp,
năm đệ Nhất hai thằng quỷ đó bay mất
nhưng lại xuất hiện một số khuôn mặt mới
trong đó có Lư Văn Nhơn, trưởng lớp. Xóm nhà lá
có Hồ Đắc Duy, Tôn Thất Thung, Phạm Tấn
Hoan. Riêng Hoan th́ hiền như bụt không biết sao lại
kẹt vào xóm này. Hoan về sau thành thương phế binh
mất cả tứ chi, mù cả đôi mắt. Theo lời
Trần Thanh Khánh Hoà th́ Hoan tự tử để tránh bớt
gánh nặng cho gia đ́nh sau ngày đất nước
được “giải phóng”,
sau ngày “nhà nhà hân hoan, người
người no ấm”. Lần cuối cùng tôi gặp Hoan
ở phi trường Phú Bài năm 1973, lần đó chỉ
kịp nói với Hoan mấy câu và kịp trao đổi một
cái siết tay với Đại uư (?) Lư Văn Nhơn
trước khi tất tả lên phi cơ. (Hoan là cán sự Công Chánh –Hồi nhỏ h́nh như có
tật ở chân nên đi hơi cà vẹt ---(Chú
thích của Phạm Cơ)
Khu trái độn
có Cung Trọng Bảo, Trần
Trong Hân, Lê văn Hoàng, ngồi chung bàn Ba đương sự
trời sinh ra để ngồi gần nhau rồi sau này
cùmg đi làm nghề cạo giấy, Đốc phủ sứ
Bảo, Thẩm phán Hoàng và anh chàng Cao học Kinh tế binh
nh́ Hân về sau về dạy trường Luật Huế.
Trong khu vực này có luôn Hồ Phùng, Nguyễn Quốc Vọng
toàn băng Hàm Nghi tụi nó, cái bọn con công chức thằng
nào cũng học đúng tuổi mà lại giỏi nữa.
Đám Nguyễn Tri Phương như tôi đa số bị
ảnh hưởng chiến tranh v́ ở nông thôn vừa học
trễ vừa thiếu phương tiện nên không địch
nổi tụi nó.(Ha ha ha ha …(Pham Cơ chú thích)
Giáo sư năm đệ
Nhất đáng nhớ có thầy Nguyễn Đức Mai.
Thầy dạy Anh văn từ quyển La vie en Amérique soạn
cho học sinh Premier Pháp học nhưng thầy kể toàn
chuyện cao bồi viễn tây. Tôi nhớ một bài trong
quyển sách ấy v́ lúc vào vấn đáp phần hai tôi bị
thầy Đỗ Khánh Hoan hỏi: Psyche and Skyscraper. Thật ra mà nói, nếu cho tôi trả
lời bằng tiếng mẹ đẻ chưa chắc
đă trả lời được nói chi đến tiếng
Anh. Vậy mà nhờ thuộc bài thơ Đi Chùa
Hương của Nguyễn Nhược Pháp-Vưà đi vừa niệm Quán
Thế Âm Bồ Tát th́ sẽ …Tôi cũng niệm danh hiệu
Quán thế Âm và được thầy thương t́nh (hay
đức Quán thế Âm phù hộ) cho đỗ. Thầy
Mai có khuôn mặt hóm hỉnh và linh động giống Cantinflas (1911-1993), tài tử
được mệnh danh là Charlie Chaplin của Mễ, nổi
tiếng với vai tṛ Passepartout trong phim Ṿng Quanh Thế Giới 80 ngày/Le tour du Monde en
Quatre-Vingt Jours/ Around the World in Eighty Days năm 1957. Thầy
ăn nói lưu loát và sống động không lạ ǵ về
sau thầy ra làm Trưởng ty Thông Tin Thừa Thiên.
Thầy Trần Tiển
Hoan dạy Vật lư với giọng đều đều
nên được đặt biệt danh Độ Rề. Trong giờ thầy, không biết
do ai xách động, nhưng chắc chắn là bọn con
nhà giàu, học giỏi, phá như giặc Hàm Nghi, cả lớp
quỳ gối lên ghế chấp tay niệm sám hối từ
nay xin học hành ngoan ngoăn. Đúng là nhất quỷ, nh́ ma
thứ ba học tṛ. Thầy Hoan về sau lấy xong cử nhân Anh văn
ĐH Huế. Lần cuối cùng tôi nghe tin thầy vào đầu
năm 1975, lúc đó thầy gửi hồ sơ vào Ság̣n nhờ
Trần Văn Nghĩa nạp đơn xin đi du học. Đúng là người
có chí.
(Lần đầu tiên vừa ra trường
Đại học Sư pham, thầy Hoan được
điều đến dạy ngay
lớp chúng tôi, Buổi học đầu tiên học
tro đứng dây chào thầy, thầy đưa hai tay ra hiệu
ngồi xuống với câu đáp trả: “Mời Ngồi”—Cả
bọn ngẩn ngơ !!!! Tuần
sau thầy cũng y lệ vừa nói xong câu mời ngồi,
đột nhiên ở cuối lớp vang lên câu đáp từ
“Mời dạy” ---Hồi đó không biêt tên nào lên văn
pḥng chép nguyên tên các bậc cha mẹ học sinh xuông sao nhiều
bản chuyền tay nhau, hôm đó thầy Hoan vừa
đưa tay chỉ Dương minh Chấn, cả bọn
nhao nhao—“tṛ Tháo, tṛ Tháo trả lời thầy” Thầy
tưởng thật cao giọng hỏi “Anh Tháo có hiểu
không?” khiến Chấn khuôn mặt vốn đen mà lúc bầy
giờ trắng bệt như tờ giấy trắng, hôm
sau gặp tôi trong giờ ra chơi thầy c̣n ngây thơ hỏi:”Cơ
ơi Tháo là tên bồ thằng chấn phải không????) (Chú
thich của Pham Cơ)
Monsieur Vincent Thường
dạy Pháp Văn mỗi lần vào lớp th́ theo trong sổ điểm mà gọi năm
đứa lên trả bài. Thầy dạy Pháp văn nhưng
phớt tỉnh như ăng lê. Một hôm thầy đến trễ vài phút,
trưởng lớp Lư Văn Nhơn bày binh bố trận
cho trận anh em ẩn mặt, chờ khi thầy đến
hắn ra thưa tại anh em tưởng thầy không
đến nên về cả rồi. Thầy không cần hỏi
thêm, bỏ đi một mách dù sau đó có tiếng cười
rộ vui mừng của anh em mà chắc chắn thầy
nghe được.
Lớp đệ Nhất
năm đó c̣n Vương Vũ
Trần Thanh Khánh Ḥa, thằng có hàm răng trắng tinh và nụ
cười đẹp ác. Có những bài toán từ Le Bosset
thầy Tuệ c̣n đang suy ngẫm th́ hắn đă
đưa tay lên bảng.
Trong lớp c̣n có
Trương Văn Ngự, anh chàng xứ Quảng mặt
mày rạng rỡ, lúc nào nụ cười cũng hiển
hiện trên môi. Hắn viết chữ bay bướm ác, hèn
chi sau này trở thành Kiến trúc sư tên tuổi, mỗi lần
lên bảng là anh em nhao nhao “chiếu hôn, chiếu hôn”. Ngự
là một người lập gia đ́nh khá sớm, có đời
sống gia đ́nh ổn định, vững chắc trong
lúc bạn bè đa số c̣n lông bông. Hồi đầu thập
niên bảy mươi hắn có nhà có xe hơi ở khu Bàn cờ,
mỗi lần tôi và Phạm Lương Cơ hay Trần
Văn Nghĩa ghé chơi th́ tủ lạnh lúc nào cũng có
sẵn Coca, Cola. Lần cuối tôi nói chuyện với Ngự
cách đây chừng một năm lúc hắn qua Mỹ, sau
này mấy lần gọi lại th́ đương sự
đi VN. Đời sống gia đ́nh Ngự có đổi
thay, đúng ra th́ tất cả con của Ngự đều
ngoài ba mươi lăm nhưng bây giờ lại có con mọn.
Cùng lớp c̣n có hai
đứa học chung từ đệ Thất Nguyễn
Tri Phương lên, đó là Phạm Sĩ Trực và Huỳnh
Thành Đạt. Qua hơn hai mươi lăm năm tôi mới
bắt lại được liên lạc với Trực, hắn
ngạc nhiên nghe tôi đă yên bề gia thất, v́ có lẽ hắn
là một trong những thằng bạn thân tôi hồi hậu
QH nên biết tôi khá nhiều. Hôm đầu tiên nói chuyện
với hắn tôi bắt lại được niềm phấn
chấn tưởng đă nguội lạnh từ lâu, mừng
chi lạ. Tôi biết hắn vẫn c̣n mang tôi theo trong tim dù
qua bao thăng trầm dâu bể. Hắn không ngạc nhiên thấy
tôi chọn
C̣n Huỳnh Thành Đạt
học chung tôi từ đệ thất, đi thi thành chung,
phần một, phần hai ngồi chung bàn. Vào lính chung
trường, chung khóa, chung tiểu đoàn, chung hành lang lầu
ba. Mấy chục năm không gặp bỗng một hôm hắn
gọi từ
C̣n một khuôn mặt
đặt biệt khác nữa đó là Bửu Đá. Xin nhắc lại,
Bửu Đá chứ không phải
Bửu Đa. Hắn liên lạc
thư tín với một cô bạn bốn phương và cô
nhất định không tin tên hắn có dấu sắc, hắn
đi sang giấy khai sinh gửi vào chứng minh cô ta cũng
không tin cho rằng sau khi thị thực xong hắn thêm dấu
vào. No
problem! Pas de problème! Pas problema! hắn đi vào quận
xin chứng nhận với hàng chữ : Tên
đương sự là Bửu Đá có dấu sắc. Voilà, Parfait! Lúc hắn ở Kỳ
Đồng, một buổi chiều tôi và Phạm
Lương Cơ ghé thăm, vừa đến ngỏ hẻm
th́ cũng gặp lúc hắn vừa về và cũng đúng
ngay lúc có một đứa bé bị nạn, thiên hạ
đang nhốn nháo chưa biết xử trí thế nào th́ Bửu
Đá trong quân phục sĩ quan vác thốc thằng nhỏ
đầy máu me nhảy lên một
chiếc xe xích lô bảo chạy ngay vào bệnh viện. Tôi
và Cơ đứng nh́n theo và từ ngày đó tôi không có dịp
gặp lại hắn. Bửu Đá tháo vát, nhanh nhẹn và
trách nhiệm, những đặc tính đáng quư của một
người hướng đạo mà tôi biết hắn là
huynh trưởng. Điểm quư báu nhất là hắn đầy
ấp t́nh người, đầy ắp tinh thần cộng
đồng.
(Lại Chú Thich Của
Pham Lương Cơ : Phần
tôi tôi cũng chơi thân với Bửu Đá, hắn là thằng
hay rủ thầy Hoàng phủ Ngọc Tường đi uống
café, Sau này qua Mỹ Từ ngày
rời Quốc Hoc năm 1963 đến 2006, không biết
Đá ở đâu, môt hôm lang thang trên Net, đến mục
people search, tôi đánh tên nó Last name BUU First name DA rồi click
search….Lạ lùng thay, computer showed tên và cho tôi cả số
điên thoại của nó mới ghê chứ.)
Bây giờ năm hết Tết đến ngồi
đây trên miền đất ngh́n trùng xa thẳm quê
hương, nhớ quê xưa, nhớ thầy cũ, nhớ
bạn bè một thuở tuổi đời c̣n xanh.
Ngoài ba mươi năm ôm Huế trong giấc ngủ,
ngoài ba mươi năm giữ ḍng sông Hương êm đềm
luân lưu trong tâm hồn tôi nhận ra ḿnh không c̣n cái nao nức
chất Huế ḿnh ngày
xưa và mất hết khả năng đặc biệt của
người đàn ông Huế. Khả năng sinh sản. Nếu
có khi nào thân t́nh hỏi một chàng trai xứ ớt : Mi có biết cái đó không? Bạn
sẽ được nghe trả lời một câu đầy
ứ Huế, Tau đẻ nó
ra mà không biết à. Một người đàn ông Huế
có chừng vài chục đứa con, tôi cũng vậy, có lẽ
v́ vậy nên Huế bị nạn nhân măn do đó mùa đông thiếu áo, hè thời
thiếu ăn.
Lê Tất
Đạt
23 tháng chạp năm Bính Tuất
(Mồng 10 tháng 2 năm 2007)