Lan man Tết Huế
Cứ vào độ cuối
tháng
Mặc dù mưa lạnh dai
dẳng vẫn c̣n kéo dài nhiều tuần nữa nhưng những
ngày nắng ấm bất chợt đă xuất hiện nhiều
hơn. Vào những ngày nắng hiếm hoi đó dường
như có một cái ǵ đó thật khác lạ, thật phấn
chấn trong tiết trời, tạm gọi đó là mùi Tết.
Nó phảng phất đâu đó trong cái nắng bất chợt
vào buổi sáng, cái se se lạnh vào lúc chiều tối hay quyện
giữa đám sương mù vàng sậm trong ánh đèn
đường Thành Nội. Không khí đôi lúc
có mùi nồng nồng, nong nóng. Khó diễn
tả lắm nhưng rất dễ cảm nhận.
Trời chuyển tiết
dường như cũng nhanh hơn và bất ngờ
hơn, nhiều khi chỉ dự đoán được bằng
những dấu hiệu rất riêng. Mới chiều tối hôm trước
c̣n mưa lạnh sụt sùi, nhưng chỉ nh́n vào đám lọ
nghẹ (nhọ nồi) cháy lăn
tăn ở đít cái ấm nước vừa nhấc ra
khỏi bếp củi là Mạ tôi liền nói: “Ri chắc
có lẽ là ngày mai Ông tạnh rồi”. ‘Ông’ ở
đây là ông Trời. Nghe Mạ tôi nói nhiều khi rất
tức cười: đă ‘chắc’ rồi mà c̣n ‘có lẽ’
nữa. Tôi th́ dự đoán chuyện nắng - mưa,
mưa - nắng theo cách khác: nếu buổi
tối khi đi ngủ tự nhiên thấy hai vành tai hoặc
hai bàn chân, bàn tay ḿnh tự nhiên nóng ran lên th́ sáng mai thời
tiết sẽ thay đổi theo chiều ngược lại.
Một cách khác nữa được nhiều người
thừa nhận hơn là nếu tối hôm trước
sương mù dày đặc th́ thể nào sáng hôm sau trời
cũng nắng ấm.
Nhân nói chuyện
sương mù th́ cũng có nhiều cái để kể. Ở Huế thời gian này vào sáng sớm
nhiều hôm sương mù giăng dày đến nỗi khó
nh́n rơ vật ǵ cách ḿnh 10 mét. Buổi sáng đạp xe
đi học từ An Cựu lên Trường Hai Bà Trưng
ở Lê Lợi nhiều khi sương thấm đều
vạt trước áo len và đọng ướt cả
tóc, lông mày, lông mi. Tôi vẫn c̣n nhớ con đường
Nguyễn Huệ trước kia đoạn từ Cung An
Định chạy ngang qua Ḍng Chúa Cứu Thế lên đến
Nhà Đèn hai bên đường có khá nhiều cây phượng
ta và phượng tây (hoa nhỏ, màu vàng). Vừa đạp
xe ngắm nh́n hàng cây mờ mờ ảo
ảo trong sương, hít căng lồng ngực cái không
khí lành lạnh thấm đẩm hơi sương đó
cũng là một cái thú mà đă lâu rồi tôi không c̣n t́m lại
được.
Lạ nhất là những lúc
sương mù như thế này th́ ruồi đồng ở
đâu ra nhiều vô kể, không bay đi bay lại mà cứ
lơ lửng lửng lơ trong không trung, chỉ cao
hơn tầm đầu người một chút, lâu lâu lại
vụt đổi vị trí. Bay nhè nhẹ trong đàm
sương mù nhiều khi là những sợi tơ Trời
trắng tinh. Đến bây giờ tôi vẫn chưa t́m hiểu
xem những sợi tơ Trời này do đâu mà có và sao lại
gọi là tơ Trời. Chỉ biết rằng lúc đó
con nít tụi tôi thường cố chụp lấy một
sợi và … ăn, tin rằng của Trời th́ phải ngon
và quí, nhưng thật ra nó chẳng có vị ǵ cả.
Càng cận Tết mưa
nhỏ hạt dần, khí trời khô hơn nhưng vẫn
c̣n rất lạnh. 15-17 độ là chuyện thường. Ban
đêm đi ngủ nhiều khi phải quấn người
kỹ trong mền cả tiếng đồng hồ mới
thấy ấm hai bàn chân. Hồi c̣n nhỏ, năm nào gần
Tết tôi cũng cầu mong trời cứ mưa lạnh
cả tháng Chạp cũng được, miễn sao mấy
ngày Tết phải nắng để c̣n đi chơi và diện
áo quần mới. Người buôn bán chạy ăn cho gia đ́nh như Ba Mạ tôi th́
ngược lại, chỉ ước sao tháng Chạp ít
mưa để hàng họ c̣n có người mua, gom tiền
trả nợ, đóng hụi và dành dụm chút ít. Về sau này, khi gia đ́nh đă đỡ vất
vả hơn th́ h́nh như hai ông bà cũng thích ba ngày Tết
ấm áp để c̣n thăm viếng bà con thuận tiện
hơn.
Khoảng cuối tháng 11
đầu tháng Chạp người Huế bắt đầu
rục rịch chuẩn bị Tết. Sớm nhất có lẽ
là những người trồng cây cảnh bán Tết. Không
phải là chuyên nghiệp nhưng hai cha con ông hàng xóm nhà tôi cũng
dành nhiều thời gian chăm chút hơn cho dăm ba chục
chậu kiểng của ḿnh. Tôi không rành về cây cảnh nhưng ba tôi nói mấy
gốc sung gốc tùng của hai cha con ông này rất thường
– được một cái là hầu như năm nào ông
hàng xóm này cũng cho ba tôi mượn chưng mấy ngày Tết
một hai chậu không bán được.
Trồng cây cảnh và hoa
bán Tết chuyên nghiệp là phải nói đến những
vườn bên Vỹ Dạ, trong Thành Nội hoặc dưới
Bao Vinh. Mấy loại
hoa thường ‘hút’ hàng và không kén người mua mấy là
cúc vạn thọ, cúc kim, thược
dược và đặc biệt là mai. Dịp Tết,
người Huế không chơi cây đào như người
Bắc, không chơi cây lộc như người
Cùng thời gian này, các chợ
hoa ở Huế cũng bắt đầu mở. Hồi trước, tôi biết có ba chợ
hoa chính ở Huế: Cung An Định,
Thương Bạc và Phu Văn Lâu. Chợ hoa Cung An Định
và Thương Bạc th́ có kèm theo các tṛ
hội chợ. Bây giờ th́ h́nh như chỉ
c̣n có chợ hoa Phu Văn Lâu. Chợ này bây giờ
được bố trí trên khoảng đất trống ở
Phu Văn Lâu, kéo dài từ Cửa Nhà Đồ cho đến
Cửa Ngăn. Mỗi chủ hàng giăng một dây dừa
quây lấy một khu đất khoảng vài ba chục mét
vuông của ḿnh rồi bày tất cả các loại hoa và cây
kiểng trên đó. Cây kiểng th́ thường
được vô chậu từ rất lâu nhưng hoa th́
thường chỉ mới được vào các loại
chậu lớn nhỏ khác nhau chỉ cách đó một vài
ngày – chắc là để dễ chăm sóc và tươi lâu
hơn. Đi chợ hoa mấy ngày này thiệt
là vui. Đủ các loại hoa, đủ
loại màu sắc và đủ loại giá cả. Trả
giá (mặc cả) là một việc đương nhiên khi
đi mua hoa, thường th́ chủ hàng nói thách khoảng
30% và hầu như cả người bán lẫn người
mua chả bao giờ lấy làm bực ḿnh v́ chuyện trả
giá mất th́ giờ này cả. Tết mà.
Riêng tôi th́ hay cho rằng dù ḿnh có mua bị mắc hơn một
chút cũng chấp nhận được v́ nghĩ đến
những cái rủi ro, cực khổ của người trồng
hoa và bán hoa Tết. Người trồng hoa gặp năm
trái tiết Trời làm hoa nở sớm hoặc nở trễ
dịp Tết th́ bao công lao, vốn liếng mấy tháng trời
coi như đổ sông đổ bể. Hoa nở đúng
dịp Tết cũng chưa chắc hứa hẹn thu lại vốn. Chỉ cần
hai tuần trước Tết mà mưa lạnh liên tục
th́ coi như lỗ v́ lượng người đi chợ
hoa giảm hẳn. Rất nhiều
năm các chủ hàng phải bán đổ bán tháo phần lớn
hoa vào đêm giao thừa để c̣n dọn dẹp, trả
lại mặt bằng cho chính quyền. Chính v́ vậy
mà khá nhiều người trước Tết đi chợ
hoa rất nhiều lần, lựa chọn, trả giá
nhưng chỉ đợi đến tầm 8-9 giờ tối
đêm giao thừa mới đi mua để được
giá rẻ. Có để ư nh́n những chủ hàng ngồi co
ro trong mưa lạnh, lo lắng nh́n cả trăm chậu
hoa đẹp mà ế ẩm của ḿnh trong những
đêm cận Tết mới thấy được phần
nào cái khổ của nghề này.
Người Huế đi chợ hoa
ngoài việc để mua hoa hay ngắm hoa mà h́nh như c̣n
để cảm nhận một cách rơ ràng hơn là Tết
đang đến và ḿnh đang đón Tết.
Thường đồng
thời với chợ hoa là Hội chợ. Như đă nói ở trên, hồi
trước bên bờ Nam Sông Hương th́ hội chợ
mở ở Cung An Định, bờ Bắc th́
Thương Bạc. Gọi là hội chợ chứ thực
ra chỉ là mươi gian hàng cất tạm bằng phên nứa
trên một băi đất trống khoảng năm bảy
trăm mét vuông, mỗi gian hàng là một tṛ chơi ăn tiền,
quanh đi quẩn lại cũng chỉ là bầu cua cá ngựa,
ném lon, ném ṿng, lô tô, bài cḥi…
Đơn giản là vậy mà hội chợ
với tôi hồi đó có sức hấp dẫn hết sức
lớn. Cảnh nhộn nhịp huyên náo,
người lớp trong lớp ngoài trước mỗi
gian hàng, tiếng rao tṛ chơi dồn dập, thúc giục…
tất cả tạo ra một hấp lực ghê gớm.
Tôi mê nhất là tṛ lô tô, không phải để
chơi mà chỉ để nghe ḥ. Thường th́ chủ
những gian hàng này là người trong
“Lô tô lô tô
Quí bà quí cô, muốn đánh lô tô th́ phải
nghe cho rơ
Xin đừng đăng trí kẻo
lộn cờ kinh.
Con ǵ nó ra đây, là con ǵ nó ra đây
Con năm ǵ đây, là con năm ǵ đây
Con năm hay náu là con năm mươi
sáu…”
Cứ như vậy mà những
câu ḥ này như hớp hồn tôi hồi đó.
Một tṛ chơi khác cũng
hấp dẫn tôi coi không kém là bài cḥi. Tương tự như
bài tới nhưng bốn người chơi ngồi trong
bốn cái cḥi lá quay mặt nh́n nhau. Người
chơi bài cḥi phần lớn là những ông già bà già. Một
người khác ḥ gọi những con bài những câu ḥ rất
hay, vừa giống ḥ giă gạo, vừa giống ḥ ru con. Một người khác nữa chạy
đi chạy lại giữa các cḥi để đổi
các con bài, h́nh như thế. Lâu quá không
được coi chơi bài cḥi nên tôi chỉ nhớ mang
máng về tṛ này như vậy mà thôi. Hơn
nữa, h́nh như đă lâu người ta không c̣n chơi
bài cḥi nữa rồi.
Hội chợ hồi đó tôi nhớ
h́nh như thu hút đủ loại
người, đủ loại lứa tuổi. Có lẽ, một phần v́ thời buổi khó
khăn nên Tết nhứt chẳng có hoạt động giải
trí nỗi bật nào khác. Hồi khoảng 6-8 tuổi
th́ ba tôi hay dắt tôi đi hội chợ, thường là
với một lời dặn với theo
của mạ tôi: “Coi chừng cả bị móc túi". Thường th́ tôi chỉ được chơi
một hai tṛ cho có v́ đâu có đủ tiền, một phần
v́ mạ tôi rất không thích bài bạc. Nhưng
cái vui không ở chuyện chơi mà chính là cái cảm giác
được hoà trong cái không khí hỗn độn và nhộn
nhịp đó.
Hội chợ bây giờ chỉ c̣n ở
Thương Bạc, thu hút chủ yếu
dân ở các làng phụ cận lên Huế chơi Tết mà
thôi. Cũng vẫn một cách bài trí, những
tṛ chơi cũ mà sao mỗi lần đi ngang qua hội chợ
tôi thấy nó tội nghiệp và đ́u hiu quá - tiêng tiếc
một cái ǵ đó không rơ.
Người Huế khá kỹ tính và cầu
kỳ trong chuyện ăn uống, đặc
biệt là dịp Tết nhứt. Loại bánh mà hầu
như nhà nào cũng có vào dịp Tết là bánh chưng, bánh Tét. Hồi trước, khi cả
tám chín anh em tụi tôi c̣n ở chung với
ba mạ, nhà tôi hay gói và nấu bánh tét, thường th́ canh
chừng sao cho bánh chín tới vào chiều ba mươi Tết
để ba ngày tết bánh vẫn c̣n mềm ngon. Dĩ
nhiên ba tôi là người đảm trách khâu quan trọng và
khó nhất: gói bánh. Tôi không nhớ kỹ về
cách gói bánh và qui tŕnh nấu, nhưng h́nh như từ khi bắc
nồi bánh lên nấu cho đến khi chín cũng phải mất
mười mấy tiếng đồng hồ, với không
biết bao nhiêu lần châm nước vô nồi. Trời
Huế cuối tháng chạp vẫn c̣n lạnh lắm nên ngồi
canh nồi bánh tét cũng lă một cái thú, vừa cố thu
hết hơi ấm từ ḷ lửa vừa góp vào câu chuyện
ăn tết năm nay sẽ như thế
nào của mọi người xung quanh.
Hồi đó kiếm cho ra một cái nồi
đủ to để nấu 15-20 đ̣n bánh tét không phải
là dễ nên thông thường trong xóm thường mượn
nồi của nhau để nấu, nhà này nấu xong th́
cho nhà khác mượn hoặc hai ba nhà góp lại nấu chung cho tiện. Phổ biến
nhất là lấy thùng gánh nước để nấu.
Nếu nhà ai không có điều kiện để
nấu bánh th́ đặt tiệm nấu. Ở Huế,
có hai ba cửa tiệm nổi tiếng ai cũng biết
chuyên nấu bánh chưng bánh tét bán quanh năm, không cứ ǵ
ngày Tết. Mấy tiệm này nằm ở đường
Nhật Lệ bên hông trường Nguyễn Huệ nên lấy
chung một thương hiệu là Bánh chưng Nhật Lệ,
tức cười một điều là tiệm nào cũng
khẳng định ḿnh là ‘chính hăng’. Cả ba
tiệm đều đắt hàng nên nếu qua chừng
25-26 tháng Chạp mới qua Nhật Lệ đặt bánh
th́ e rằng không c̣n kịp.
Mấy năm gần
đây, h́nh như người Huế ít nấu bánh tét riêng
từng nhà mà đặt tiệm nấu nhiều hơn. Nhà tôi cũng vậy, ở nhà chỉ
c̣n hai ông bà già quanh quẩn với nhau, con cái người
th́ ra ở riêng, người th́ đi xa làm ăn, cận Tết
mới cố về thăm ba mạ một vài ngày - biết
bao giờ mới t́m lại được hơi ấm
bên nồi bánh ngày xưa, t́m vui cho ḿnh và cho ba mạ nữa.
Ngoài bánh chưng, bánh
tét, người Huế c̣n bày ra khá nhiều loại bánh mứt
khác như: bánh thuẩn, mứt gừng, mứt dừa, mứt
bí đao, mứt cà rốt, mứt hột sen… Có lẽ Kim Long là nơi làm bánh mứt bán Tết
nhiều nhất ở Huế. Đây chính là đầu
mối để các hàng bánh mứt các chợ lớn
như Đông Ba, An Cựu, Tây Lộc lấy hàng dịp Tết.
Về sau này, Kim Long không c̣n nhộn nhịp làm mứt
như trước nữa v́ bánh mứt đóng hộp, sặc
sở và đa dạng từ Sài G̣n ra, Hà Nội vào đă
tràn ngập Huế với giá phải chăng. Dù bây giờ bánh mứt nhiều hơn, ngon hơn
nhưng món mứt nhiều làm tôi nhớ nhất lại là
sắn ngào, rất quen thuộc với anh em tôi trong dịp
Tết những năm sau 75. Hồi đó, hầu
như nhà nào cũng ăn độn, khi th́ sắn, khi th́ hột
bo bo (h́nh như đây là một loại
ngũ cốc dành cho ngựa ăn th́ phải). Sắn hiện
diện ngạo nghễ trong mọi bửa ăn
của gia đ́nh tôi hồi đó, khi là thành phần độn
(nói là độn nhưng thực chất là chính v́ chiếm
tỷ lệ tới 70% so với cơm), khi là bửa chính.
Sau khi nấu, nếu những củ sắn nào bị xâm
(thâm đen, cứng và có vị đắng) hay những khúc
sắn nào bị chang (nhiều xơ bọc xung quanh) đều
được xắt thành từng lát mỏng, cỡ bằng
hai đầu ngón tay rồi mang phơi
khô, cất kỹ. Tết tới, mấy chị
tôi mang loại sắn này ra ngào với đường và gừng
và ít giọt chanh. Sản phẩm cuối
cùng là một loại mứt sắn gịn, có vị ngọt của
đường, có vị bùi bùi của bột sắn, có vị
cay cay của gừng, có vị đăng đắng của
đường thắng. Đúng như
vị của cuộc sống khó khăn hồi đó.
Nếu mứt sắn ngào
làm tôi nhớ nhất th́ mứt gừng là loại tôi thích
nhất. Mứt gừng
trong
Đốt pháo Tết cũng
để lại nhiều hồi ức đẹp đẽ
trong tôi. Hồi nhà nước
c̣n cho đốt pháo, trước năm 95 th́ phải, việc
chuẩn bị pháo cho đêm giao thừa là một việc
hết sức thiêng liêng đối với tôi. Ông nội tôi hồi c̣n sống và Ba tôi rất
thích đốt pháo và coi trọng việc này trong dịp
giao thừa. Pháo nổ phải gịn, khoan thai
và nhất là phải liên tục, không được x́ viên
nào, nhất là pháo tống. Muốn là vậy, nhưng pháo là
do người ta sản xuất nên ḿnh cũng chỉ tác
động được một phần nào đó thôi. Năm nào cũng vậy, ba tôi và tôi là người
chuẩn bị pháo. Những năm 80 khi
c̣n rất nghèo th́ nhà tôi phải có chí ít là 1 phong pháo Điện
Quang cho đêm giao thừa. Loại pháo này do miền Bắc
làm, một phong dài độ 4 tấc, đường kính
viên pháo cỡ bằng thân cây viết ch́ và không có pháo tống.
Điện Quang nổ nhỏ, đanh và đều.
Cho dù biết là pháo tốt, nhưng ba tôi vẫn cẩn thận
luồn dọc theo tim phong pháo một sợi
chỉ để bảo đảm pháo không bị giật
đứt và tắt nửa chừng. Luồn chỉ xong,
phong pháo được hong trên giàn bếp cả tuần
trước Tết. Sau này, mỗi cái Tết như vậy
nhà tôi đốt ít nhất là 4 phong, mỗi phong khoảng
2-3 mét và rất nhiều pháo tống: cúng tất niên chiều
30 Tết – 1 phong, giao thừa – 1, sáng Mồng Một – 1,
cúng đưa Mồng Ba – 1.
Khoảng 20 ngày trước Tết là
đă nghe râm ran tiếng pháo vào ban đêm, tầm 8-9 giờ
tối: do là nghề may cúng tổ vào dịp này. Chiều ba mươi Tết nghe pháo nổ đă
nhiều hơn nhưng chưa tập trung. Nhưng hồi hộp nhất, thiêng liêng nhất
phải nói là tiếng pháo giao thừa. Khoảng 12 giờ
kém 15, ba tôi hoặc tôi cẩn thận tháo phong pháo ‘chủ lực’
ra, kiểm tra lại dây tim, rồi treo lên cây cột sắt
trước nhà. Khi kim giây của cái đồng hồ chính
nhích đến số 12 th́ cũng là lúc ba tôi tay run run châm lửa
đốt phong pháo để đón chào những thời khắc
đầu tiên của năm mới. Tiếng
pháo, tiếng chuông đại của ngôi chùa cạnh nhà, mùi
trầm hương… tất cả quyện vào nhau để
khiến cho cái giây phút chuyển giao cũ-mới của
Đất Trời thật thiêng liêng và in sâu vào kư ức mỗi
người. Việc sau này cấm pháo
đă làm cho giao thừa vô duyên đi rất nhiều.
Khác với nhiều nơi
khác, người Huế không có thói quen xuất hành đi hái
lộc vào đêm giao thừa. Thay vào đó, sau thời khắc năm
cũ-mới, từng gia đ́nh lại quay quần bên nhau
một lúc. Lúc này, mạ tôi thường
dọn ra một ít bánh mứt, xôi chè và một b́nh nước
trà. Cả nhà ngồi quanh để tṛ chuyện, chủ
yếu là bàn chuyện kế hoạch đi đâu làm ǵ cho
cả nhà vào sáng mồng một Tết. Có khi, nếu cả
nhà đều thức đủ th́ Ba Mạ tôi mang tiền
ĺ x́ ra phát cho con cháu. Sau này, con trai tôi là đứa
cháu được ông bà cưng nhất nên bao giờ cũng
được ĺ x́ nhiều hơn những đứa
khác.
Phố xá sáng Mùng Một Tết thật
khác lạ so với ngày thường. Trước 9 giờ
sáng, ngoài phố chỉ lác đác bóng người. Không hàng
quán, không ồn ào tiếng xe cộ, chỉ
vài ba chiếc xe gắn máy chạy đi chạy lại
trên đường đầy xác pháo màu hồng. Một
hai con chó đầy vẻ bơ phờ
hốt hoảng t́m đường về nhà sau một
đêm chạy trốn kinh hoàng v́ tiếng pháo nổ. Nếu
không phải là bà con cật ruột, người Huế
kiêng thăm nhau vào sáng sớm ngày Mùng Một, sợ ḿnh là
người đầu tiên ‘đạp đất’ nhà
người ta và mang vận rủi cho nhà đó cả
năm. Người Huế dành trọn ngày mùng một Tết
để đi thăm bà con và viếng mồ mả, có lẽ
ư thức tôn trọng tổ tiên ông bà của người Huế
lớn hơn. Hồi ông bà nội tôi c̣n sống,
cả nhà tôi chín mười người kéo nhau qua thăm
ông bà. Gặp ông bà nội thường xuyên nhưng
sáng Mùng Một năm nào cũng vậy, khi nghe ông bà nội
tôi khen: “Thằng ni năm ni lớn hí” hoặc “Con ni coi
năm ni nhổ gị rồi đó”, tụi tôi vẫn thấy
sướng. Sau nhà ông bà nội, ba mạ tôi
thêm một hai người nữa lên làng nội tôi trên An
Ninh Thượng để chúc Tết mấy người
trong họ, số c̣n lại về nhà lại nhà để
tiếp khách.
Hồi c̣n nhỏ, tôi
năm nào cũng tháp tùng ba mạ lên làng ngày Mùng Một. Tết
ở làng với tôi cũng nhiều cái để coi. Trên đường vô nhà
thờ họ Lê, lác đác vài nhóm chơi bầu cua cá ngựa,
người lớp trong lớp ngoài đặt chơi.
Tôi nhớ ba tôi năm nào cũng đặt 3 chén, ăn thua ǵ cũng không chơi nữa, chủ
yếu cho tôi vui mà thôi. Tới nhà thờ họ
khó cho tôi nhất là chuyện thưa gửi. Có nhiều
đứa con nít trạc tuổi tôi hoặc lớn hơn
một chút th́ tôi phải xưng bằng bác, có người
tôi định xưng bằng bác th́ đúng ra phải
xưng bằng anh. Được cái người
làng không phật ư những chuyện như vậy. Trong họ, mấy anh em tôi nổi tiếng là học
giỏi nên ba mạ tôi rất tự hào khi được
mọi người trong họ khen. Với tôi hồi
đó, chuyên này không làm tôi tự hào bằng việc
được mấy đứa con nít trong họ nh́n ḿnh
với cặp mắt của một đứa ở làng
nh́n một đứa ở thành phố chính gốc, một
việc mà thường ngày tôi hiếm khi có được
v́ nhà ḿnh đâu có giàu hơn ai.
Sau này khi lớn lên và có gia đ́nh, nửa
sau ngày Mùng Một Tết tôi thường qua nhà vợ.
Lại những lời chúc tụng, ĺ x́ qua lại
và sau đó thường là những ván bài x́ lát với những
người bên gia đ́nh vợ.
Ba ngày Tết tôi thích nhất là ngày Mùng
Hai, đơn giản v́ đây là ngày người Huế
thường dành để thăm viếng bạn bè. Hồi
c̣n đi học, tôi và tụi bạn thường đi
thăm nhau theo kiểu ‘cuốn chiếu’, có nghĩa là ban
đầu một đứa đến nhà một đứa
khác, rồi cả hai đứa kéo nhau đến một
đứa thứ ba, ngồi chơi, nói chuyện, ăn uống
nhà mỗi đứa một lúc rồi lại kéo sang nhà một
đứa khác; cứ thế cho đến cuối ngày cả
nhóm lên đến cả chục đứa rồi tan hàng.
Sau này khi đi làm rồi cũng vậy, nhóm bạn thân
trong cùng chơi trong câu lạc bộ vũ cầu của
tôi cũng thăm nhau theo kiểu như
vậy, chỉ có khác là mang theo cả vợ con và cuối
ngày th́ phần lớn các vị đàn ông đều đă
tưng tưng v́ uống nhiều bia rượu rồi. Những
năm sau này khi không c̣n ở Huế mà chỉ về ăn
Tết, tôi không c̣n được tham gia những cuộc
‘lê la’ như vậy nữa; chủ yếu là v́ không ‘plan’
trước cùng mọi người được, một
phần v́ nhóm cũng không c̣n vui như trước: người
th́ đi xa, người th́ không c̣n thân, thậm chí có người
đă chết. Tết vừa rồi tôi may mắn có dịp
ngồi lại trước Tết với năm bảy
người bạn thân, vừa hàn huyên vừa nhớ tiếc
những Tết trước ‘tưng bừng’ với nhau.
Mùng Ba Tết được
nhiều người Huế coi là ngày để thăm viếng
đồng nghiệp, hàng xóm láng giềng và những người
có quan hệ ơn nghĩa với ḿnh. Hoặc c̣n được coi là ngày
để cố thăm hết những người
đáng thăm mà chưa thăm, trước khi hết Tết.
Hồi nhỏ, tôi rất có ác cảm với ngày Mùng Ba,
đơn giản là v́ mỗi giờ phút qua đi là không
khí Tết như loăng dần – người ta đă bắt
đầu nói đến chuyện đi làm, đi học
trở lại. Tuy vậy, hồi đó Mùng Ba với tôi vẫn
có cái để chờ đợi, đó là được ăn Cúng Đưa ông bà. Thường
người Huế tổ chức Cúng Đưa vào buổi
chiều và đốt đồ giấy sau đó.
Đồ giấy ‘cổ truyền’ thường là vàng bạc,
quần áo, dù, valise; sau này th́ phong phú hơn rất nhiều:
nhà cửa, xe cộ… Người Huế
rất coi trọng các yếu tố tâm linh nên việc đốt
đồ giấy cũng cần phải để ư: phải
cháy đều và cháy hết. Thường trong nhà tôi, việc
đốt đồ giấy ba tôi thường giao cho một
ông anh, sau này là một ông anh rể, hai người này rất
chỉn chu trong việc cúng bái.
Hết ngày Mùng Ba coi như hết Tết.
Người ta dần dần trở lại nhịp sống
b́nh thường bằng việc mở lại hàng quán,
đi làm, đi học trở lại, hy vọng và cố gắng
để có được một năm mới sung túc an khang hơn.
Nhớ Huế, nhớ Tết Huế
nên những năm sau này tuy không c̣n ở Huế nữa
nhưng năm nào vợ chồng con cái tôi cũng thu xếp về Huế ăn Tết với
gia đ́nh nội ngoại. Vợ tôi khi nào cũng là người
mong ngóng ngày đến ngày lên máy bay về Huế nhất.
Cả tuần trước đó vợ tôi và cả tôi tất
bật tranh thủ đi mua sắm quà cáp cho người
thân, đêm nào cũng 10-11 giờ mới về đến
nhà. Tội nghiệp, đêm trước khi lên máy bay vợ
tôi luôn mất ngủ v́ hồi hộp, chờ đợi tới
lúc được về lại Huế.
Trông ngóng tới ngày về
bao nhiêu th́ tụi tôi càng buồn khi rời Huế bấy
nhiêu. Năm kia, khi chia tay
Ba Mạ, nước mắt tôi chảy dài khi thấy Ba Mạ
chợt già đi nhiều, lẻ loi trong căn nhà giờ
đây chỉ c̣n hai người, vắng lặng hẳn
đi sau những ngày đầy tiếng nói cười của
con cháu.
Nhưng lạ một điều,
năm vừa rồi khi quay lại Sài G̣n sau Tết, cả
hai vợ chồng tôi không c̣n cảm giác chán nản nhiều
như trước nữa, mà trái lại, phần nào như
thấy ḿnh được trở lại nhà – không biết
là nên buồn hay nên vui v́ cảm giác này nữa.
Tôi giật ḿnh khi hết Tết vừa
rồi con trai tôi mới bốn tuổi nói lẩm bẩm một
ḿnh khi đi ngủ: “Một năm lại qua đi, ḿnh lại
về quê, về Huế”.
Ừ con, Tết sang năm ḿnh lại về
Huế ăn Tết.
Sài G̣n, Tháng Tư 2004
Trich Email Cua Nguyen Van Thu tu
Hom nay la mong bon Tet , huong vi Tet dang con ! kinh gioi thieu den qui Anh
Chi va cac Ban co chut day mo voi Hue , dang o xa Hue, doc bai viet cua mot
nguoi ban Hue, rat thuan tuy va nang tinh !
Mong cac Anh Chi va cac
Ban co nhieu niem vui moi trong mua Xuan nay !
Thu Chau